Công bố lời khai của đương sự tại phiên tòa – Vướng mắc và cách giải quyết

0
411

Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 có quy định về công bố lời khai của đương sự, người tham gia tố tụng khác trong phần thủ tục tranh luận thuộc phần tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, từ quy định đến thực hiện có những vướng mắc cần khắc phục nhằm hoàn thiện quy phạm pháp luật về vấn đề này.

– Vướng mắc trong việc công bố lời khai của đương sự

Khoản 3 Điều 260 BLTTDS năm 2015 quy định: “Trường hợp vắng mặt một trong các đương sự và người tham gia tố tụng khác thì chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của họ để trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tòa tranh luận và đối đáp”. Từ quy định nêu trên, rút ra những nội dung sau:

Một là: Chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của đương sự, người tham gia tố tụng khác trong trường hợp họ vắng mặt tại phiên tòa mà trong quá trình giải quyết vụ án họ đã có lời khai. Đây là thủ tục bắt buộc, do đó, nếu chủ tọa phiên tòa không thực hiện sẽ bị coi là vi phạm thủ tục tố tụng.

Hai là: Ngoài công bố lời khai của đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) vắng mặt, thì chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của người tham gia tố tụng khác nếu họ vắng mặt tại phiên tòa như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng…

Luật sư tư vấn pháp luật Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 19006198

Ba là: Việc công bố lời khai của đương sự, người tham gia tố tụng khác vắng mặt là để trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tòa tranh luận và đối đáp. Như vậy, trong trường hợp tại phiên tòa tất cả các đương sự vắng mặt, thì chủ tọa phiên tòa không phải công bố lời khai của họ.

Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của đương sự, người tham gia tố tụng khác vắng mặt vào thời điểm nào trong phần thủ tục tranh luận tại phiên tòa. Khoản 1 Điều 260 BLTTDS năm 2015 quy định: “Sau khi kết thúc việc hỏi, Hội đồng xét xử chuyển sang phần tranh luận tại phiên tòa. Trình tự phát biểu khi tranh luận được thực hiện như sau:

a, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày. Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến. Trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày ý kiến. Người có quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ có quyền bổ sung ý kiến;

b, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận, đối đáp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến;

c, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến.

Tại phần thủ tục tranh luận, điều luật chỉ quy định trường hợp vắng mặt một trong các đương sự và người tham gia tố tụng khác thì chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của họ, mà không có quy định gì thêm nên dẫn đến có quan điểm không thống nhất về vấn đề này. Theo tác giả, dù điều luật không quy định rõ, nhưng những nội dung mà đương sự, người tham gia tố tụng khác đã khai mà thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 254 BLTTDS thì chủ tọa phiên tòa không công bố lời khai của họ.

Việc công bố lời khai của tất cả những người tham gia tố tụng khác (không phải là đương sự) trong trường hợp này là chưa hợp lý. Bởi lẽ, theo quy định của BLTTDS thì người tham gia tố tụng khác bao gồm nhiều người có tư cách pháp lý khác nhau và vai trò của họ trong vụ án cũng khác nhau.

Theo nội dung điều luật thì việc công bố lời khai của đương sự, người tham gia tố tụng khác mục đích là để trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tòa tranh luận và đối đáp. Theo tác giả, việc điều luật chỉ đề cập đến sự tranh luận, đối đáp của đương sự là chưa toàn diện; bởi lẽ, theo khoản 1 Điều 260 BLTTDS thì chủ thể tham gia tranh luận, đối đáp không chỉ có đương sự mà còn có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; không những vậy, chính người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người phát biểu tranh luận trước, sau đó đương sự trình bày bổ sung. Trường hợp, đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì họ tự mình trình bày khi tranh luận (khoản 2 Điều 260). Nếu đương sự ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng thì người đại diện hợp pháp của đương sự sẽ trình bày tranh luận, đối đáp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo nội dung, phạm vi được ủy quyền.

– Kiến nghị hoàn thiện quy định về việc công bố lời khai của đương sự

Phương án 1: Không nên quy định việc chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phần thủ tục tranh luận tại phiên tòa khi họ vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 260 BLTTDS. Bởi vì; tại Điều 254 BLTTDS đã quy định những trường hợp Hội đồng xét xử công bố tài liệu, chứng cứ của vụ án, trong đó, tại điểm a khoản 1 quy định: “Người tham gia tố tụng không có mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử”; ngoại trừ những trường hợp không công bố tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 254 BLTTDS. Do đó, việc công bố lời khai của đương sự, người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phần thủ tục tranh luận chính là việc chủ tọa phiên tòa công bố lại lời khai của họ đã được công bố tại phần thủ tục hỏi tại phiên tòa; việc này là không cần thiết và tốn thời gian, công sức của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.

Phương án 2: Trường hợp vẫn giữ quy định chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phần thủ tục tranh luận tại phiên tòa khi họ vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 260 BLTTDS, thì cần có hướng dẫn áp dụng điều khoản này để đảm bảo việc nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất, cụ thể:

Cần giới hạn lại lời khai của những chủ thể tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được công bố. Theo đó, chỉ công bố lời khai của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trừ trường hợp tài liệu, chứng cứ không được công bố theo quy định tại khoản 2 Điều 254 BLTTDS.

Việc công bố lời khai của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt tại phiên tòa sẽ được chủ tọa phiên tòa công bố tương ứng với trình tự phát biểu khi tranh luận theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 260 BLTTDS.

– Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây