Phá hoại hạnh phúc gia đình, bị xử lý như thế nào?

0
300

Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình 2014 thì mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình bao gồm việc phá hoại hạnh phúc gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. 

Câu hỏi tư vấn: Tôi kết hôn năm 2006. Gần đây, tôi phát hiện chồng tôi ngoại tình với cô A. Hai người đã có con riêng được 04 tháng tuổi. Hiện tại, tôi không có bằng chứng việc chồng tôi ngoại tình. Tuy nhiên, trong một lần uống rượu say, chồng tôi có thú nhận đang ngoại tình với cô A và hai người đã có con chung. Nhưng khi tỉnh rượu chồng tôi chối và thách thức tôi, ngăn cản tôi đi gặp cô A. Chồng tôi thường về nhà muộn, thỉnh thoảng “mất tích” một vài ngày. Hơn nữa, vì việc này vợ chồng tôi cãi nhau nhiều lần, chồng tôi còn đánh tôi. Đề nghị luật sư cho biết: tôi có thể kiện cô A tội phá hoại hạnh phúc gia đình người khác được không? (T.H – Thái Bình).

Phá hoại hạnh phúc gia đình, bị xử lý như thế nào?
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Luật sư Nguyễn Thị Yến – Trưởng Chi nhánh Công ty Luật TNHH Everest tại Quảng Ninh,
trả lời:

Về chế độ hôn nhân, Nhà nước hướng tới chế độ hôn nhân một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Việc cô A chung sống với chồng của chị như vợ chồng là vi phạm chính sách, chế độ hôn nhân một vợ một chồng theo quy định của Nhà nước và thuộc trường hợp bị cấm theo quy định tại Điều 5 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:

1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Cấm các hành vi sau đây: (a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; (b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; (c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; (d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; (đ) Yêu sách của cải trong kết hôn; (e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn; (g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính; (h) Bạo lực gia đình; (i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình. 

4. Danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và các quyền riêng tư khác của các bên được tôn trọng, bảo vệ trong quá trình giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.“.

Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 5 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật“. Do đó, với hành vi phá hoại hạnh phúc gia đình của A, chị có thể sử dụng một trong số các phương pháp hợp pháp như sau: (i) Gửi đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, hoặc phản ánh tới cơ quan chức năng (cơ quan quản lý, cơ quan Đảng) nơi A đang làm việc; (ii) Gửi đơn tới Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, Công an huyện nơi cô A cư trú, đề nghị xử lý hành chính (mức xử phạt hành chính là từ 01 đến 03 triệu đồng); (iii) Gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc chồng chị và cô A phải chấm dứt hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng.

Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau:

1- Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: (a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; (b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: (a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; (b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó“.

Trường hợp của chị, vợ chồng chị chưa ly hôn (và chưa quyết định việc ly hôn). Do đó, nếu người vi phạm (cô A và chồng chị) chưa bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính, thì cơ quan có thẩm quyền chưa có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với những người này quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuy nhiên, theo như quy định trích dẫn trên, người chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người đã có vợ sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm nếu: (i) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; hoặc (ii) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Chị lưu ý, việc xem xét và xử lý trách nhiệm (hành chính, hình sự) là cả đối với hai người vi phạm.

Nếu chị muốn chấm dứt hôn nhân mà chồng không thuận tình ly hôn, chị có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được“.


Bài viết được thực hiện bởi: Luật sư Nguyễn Thị Yến – Trưởng Chi nhánh Công ty Luật TNHH Everest tại Quảng Ninh. 

Xem thêm:

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:
  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây