Chủ nô là gì? Tất tần tật về kiểu nhà nước chủ nô

0
70
Đánh giá

Nhà nước chủ nô hay còn gọi là nhà nước chủ nô, là nhà nước tiên phong trong lịch sử dân tộc và là tổ chức chính trị đặc biệt quan trọng của giai cấp chủ nô. Nhà nước chủ nô là một hình thái kinh tế – xã hội có giai cấp dựa trên nền tảng chính trị của người bóc lột nhân dân. Chế độ nô lệ ra đời trong thời kỳ tan rã của công xã nguyên thủy. Hai giai cấp chính của chính trị sở hữu nô lệ là chủ nô và nô lệ. Do các điều kiện kinh tế – xã hội, địa lý xã hội cũng như các yếu tố tác động bên ngoài, … khác nhau nên ở các khu vực địa lý khác nhau thì độ mở của nhà nước chủ nô cũng khác nhau. Nhưng về cơ bản, tình trạng nô lệ mở cửa đối với phương Đông và phương Tây là rõ ràng nhất.

Chủ nô là gì? Tất tần tật về kiểu nhà nước chủ nô
Chủ nô là gì? Tất tần tật về kiểu nhà nước chủ nô

Chủ nô là gì?

Chủ nô là người sở hữu hoặc chiếm hữu nô lệ bị bắt có quyền thừa kế để tiếp tục sở hữu nô lệ và có thể mua, bán, nợ hoặc chuyển nhượng nô lệ. Ở Hy Lạp cổ đại, La Mã và những nơi khác, CN có hàng trăm hoặc hàng nghìn nô lệ làm nghề thủ công, khai thác mỏ, vận tải, buôn bán và các trại (latifundia). Chế độ nô lệ vẫn tồn tại ở một số nơi trong thời hiện đại. Đặc biệt là ở Hoa Kỳ (đến năm 1865) và Braxin (đến năm 1888), nhiều CN vẫn sử dụng lao động nô lệ trên các đồn điền chuyên môn hóa.

Bản chất của nhà nước chủ nô

Cơ sở kinh tế và tài chính của nhà nước nô lệ là quan hệ sản xuất nô lệ. Mối quan hệ này dựa trên quyền sở hữu của chủ nô không chỉ đối với tư liệu sản xuất mà còn đối với người lao động, tức là nô lệ. Ruộng đất và tư liệu sản xuất phần lớn thuộc sở hữu của chủ nô, giai cấp nô lệ chiếm phần lớn trong xã hội, là lực lượng tạo ra phần lớn của cải vật chất nhưng không có tư liệu sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào chủ nô. Nô lệ cũng được coi là tư liệu sản xuất của giai cấp chủ nô. Kết quả là, nô lệ bị bóc lột tàn bạo và vô số. Tình hình đó khiến xích mích giữa hai giai cấp ngày càng nóng bỏng, không thể hòa giải. Đấu tranh giai cấp diễn ra gay gắt, nhà nước chủ nô là sản phẩm mẫu mực của cuộc đấu tranh đó, chính những điều kiện kinh tế – xã hội đi kèm đã quyết định hành động thực chất của nhà nước chủ nô. Về cơ bản, nhà nước chủ nô biểu hiện tính giai cấp và tính xã hội ở tất cả các kiểu nhà nước.

Xem thêm: xuất khẩu lao đông nhật bản ngành ô tô

– Tính giai cấp

+Trong xã hội nô lệ có hai giai cấp cơ bản, đó là chủ nô và nô lệ, bên cạnh đó còn có các dân tộc

+Ở các nhà nước phương Tây, tính chất giai cấp được thể hiện rất sâu sắc và mâu thuẫn. nô lệ đã rất rõ ràng. Bởi vì ở nhà nước này, nô lệ chiếm một bộ phận lớn dân cư của xã hội và có địa vị xã hội vô cùng tồi tệ. Họ đã được coi là tài sản thuộc về chủ sở hữu nô lệ. Chủ nô lệ có quyền tuyệt đối đối với nô lệ của họ, chẳng hạn như bóc lột sức lao động của họ, bán họ, hoặc thậm chí giết họ. Nô lệ đã trở thành hàng hóa và thậm chí còn có một khu vực buôn bán nô lệ, nơi nô lệ được bán làm vật nuôi. Nguồn gốc của chế độ nô lệ ở bang này chủ yếu là từ các cuộc chiến tranh. Vì vậy, các cuộc đấu tranh giai cấp thường xảy ra với mức độ ngày càng gay gắt.

+Ngược lại, ở Nhà nước phương Đông, do nô lệ không phải là lực lượng sản xuất chính mà là công xã nông thôn, nên mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ ở nhà nước đó không sâu sắc như ở Nhà nước phương Tây.

+Công xã nông thôn là một hình thái xã hội xuất hiện phổ biến trong thời kỳ giải thể của hệ thống công xã nguyên thủy và chuyển sang xã hội có giai cấp. Công xã nông thôn định kỳ được chia đều ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước để tự canh tác và nộp thuế cho nhà nước.

+Hơn nữa, chế độ nô lệ ở Nhà nước phương Đông không thua kém gì ở Nhà nước phương Tây. Nô lệ chủ yếu làm công việc gia đình trong gia đình chủ nô. Họ vẫn có quyền lập gia đình, thậm chí được coi như một thành viên trong gia đình. Do đó, mâu thuẫn giữa giai cấp sở hữu nô lệ và giai cấp chủ nô vì thế không sâu sắc như ở phương Tây.

– Tính xã hội

+Nhà nước chủ nô ra đời để quản lý xã hội, thay thế chế độ cộng sản nguyên thủy không còn khả năng quản lý xã hội.

+Nhà nước chủ nô tiến hành một số hoạt động vì sự tồn tại và phát triển chung của toàn xã hội như tổ chức quản lý kinh tế quy mô lớn, quản lý ruộng đất, khai hoang, v.v. chất lượng cuộc sống.

+So với bang phía Tây, bang phía Đông thể hiện tính xã hội nhiều hơn. Ở Nhà nước phương Đông, do nhu cầu của cả cộng đồng xã hội, nhân dân tổ chức quản lý nước, chống ngoại xâm, quản lý đất đai và các hoạt động xã hội khác nhằm duy trì cuộc sống chung của cộng đồng.

+Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, yếu tố tư hữu dần được hình thành, mâu thuẫn giai cấp trong xã hội ngày càng gay gắt, khi đó nhà nước mất dần ý nghĩa ban đầu.

Tóm lại, sự ra đời và lớn mạnh của nhà nước chủ nô là một bước tiến dài trong lịch sử các dân tộc trên trái đất, tạo tiền đề cho sự lớn mạnh về kinh tế, tài chính và văn hoá của các xã hội truyền thống.

Xem thêm: xuất khẩu lao đông hàn quốc cho nữ

Chức năng của nhà nước chủ nô

Chủ nô là gì? Tất tần tật về kiểu nhà nước chủ nô
Chủ nô là gì? Tất tần tật về kiểu nhà nước chủ nô

Nhà nước chiếm hữu nô lệ bao gồm các công dụng bên trong và bên ngoài chủ yếu sau:

a. Chức năng đối nội

– Chức năng củng cố và bảo vệ chế độ tài sản

Đây là chức năng thể hiện bản chất của nhà nước chủ nô. Vì giai cấp chiếm hữu nô lệ có quyền sở hữu tuyệt đối về tư liệu sản xuất và sức sản xuất của nô lệ.
Ngoài ra, Nhà nước chiếm hữu chủ nô còn đưa ra nhiều biện pháp trừng trị nghiêm khắc những hành vi xâm phạm tài sản của chủ nô.

– Chức năng quân sự đàn áp chống lại sự phản kháng của nô lệ và các tầng lớp lao động khác

Xuất phát từ mâu thuẫn sâu sắc giữa giai cấp chủ nô và giai cấp chủ nô mà nhà nước chủ nô đã triển khai các cuộc đàn áp dã man bằng quân sự đối với các cuộc nổi dậy, phản kháng của nô lệ và công nhân.

– Chức năng đàn áp tư tưởng

Ngoài việc áp bức nô lệ thông qua các giải pháp quân sự chiến lược, giai cấp nô lệ còn sử dụng đàn áp hệ tư tưởng. Nói cách khác, giai cấp sở hữu nô lệ đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của giai cấp chủ nô và sử dụng tôn giáo cho các mục đích áp bức. Thông qua nhà nước, giai cấp sở hữu nô lệ đã xây dựng hệ tư tưởng tôn giáo của riêng mình nhằm duy trì sự thống trị về mặt tư tưởng và duy trì sự bất bình đẳng trong xã hội đối với sự áp bức và bóc lột.

b. Chức năng đối ngoại

– Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược

Sự tồn vong của nhà nước chủ nô gắn liền với chính sách nô lệ. Nhà nước chủ nô, phần lớn, không giới hạn số lượng nô lệ sở hữu của mỗi chủ nô. Kể từ đó, để tăng số lượng nô lệ trong vương quốc của mình, chiến tranh là một trong những phương tiện vận chuyển mà hầu hết các quốc gia nô lệ sử dụng cho mục đích thôn tính và cướp bóc, kéo dài đến chủ quyền lãnh thổ của mình. Nhưng chiến tranh cũng dẫn đến xích mích giữa chủ nô và nô lệ ngày càng sâu sắc, quan hệ giữa các bang vẫn trong tình trạng căng thẳng.

– Chức năng bảo vệ Tổ quốc

Cùng với chức năng xâm lược, nhà nước chủ nô còn chú trọng đến công tác bảo vệ Tổ quốc với mục đích chống ngoại xâm. Để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, nhà nước chủ nô đã triển khai cách sử dụng này bằng cách tổ chức triển khai lực lượng quân đội, xây dựng thành trì, pháo đài thần công, v.v.

Bộ máy nhà nước chủ nô

– Khi nhà nước chủ nô mới ra đời, bộ máy nhà nước vẫn kế thừa, in đậm dấu ấn cách mạng của hệ thống chuyên quyền thị tộc. Việc tổ chức và triển khai bộ máy nhà nước còn mang tính tự phát, người của bộ máy nhà nước thường đảm nhận mọi công việc.

Cùng với sự lớn mạnh của nhà nước chủ nô, bộ máy nhà nước ngày càng trở nên phổ biến. tổ chức thực hiện có nề nếp, chuyên nghiệp hơn. Nhà nước được chia thành các đơn vị chức năng, hành chính, lãnh thổ và tổ chức triển khai máy móc theo cấp, tạo thành mạng lưới các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương.

– Đối với nhà nước ở phương Tây, tổ chức nhà nước khá hoàn chỉnh, bộ máy nhà nước đã được phân chia thành các cơ quan nhà nước có tổ chức và hoạt động dân chủ. Điểm nổi bật của nhà nước phương Tây là sự phân chia rạch ròi giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ví dụ như nhà nước Athen, nhà nước La Mã và nhà nước Spartan.

– Đối với Nhà nước phương Đông, bộ máy tổ chức đơn giản hơn so với Nhà nước phương Tây. Vua có toàn quyền thực hiện quyền lực nhà nước. Các quan lại từ trung ương đến địa phương đều là những người phục vụ vua và giúp vua. Ai Cập, Lưỡng Hà và Ấn Độ là những điển hình của các Quốc gia phương Đông.

Dù là quốc gia đông hay tây, trong bộ máy của các quốc gia nô lệ, quân đội, cảnh sát và hệ thống tư pháp là lực lượng chính.

– Quân đội được xây dựng nhằm mục đích chinh phục và bảo vệ chủ quyền. Các chỉ huy quân sự nhận được danh hiệu và đặc quyền. Vai trò của quân đội ngày càng trở nên quan trọng khi các cuộc đấu tranh của giai cấp chiếm hữu nô lệ ngày càng lớn và chiến tranh giữa các quốc gia trở nên thường xuyên hơn.

– Cảnh sát được thành lập để duy trì trật tự xã hội của những người nô lệ trong nước.

– Tòa án của mỗi quốc gia nô lệ có những đặc điểm riêng. Các quốc gia phương Tây đã thiết lập một hệ thống quyền lực tư pháp và hành chính, hoặc một hệ thống chuyên biệt xét xử bởi các thẩm phán được bầu chọn định kỳ. Ở nhà nước phía đông, quyền tư pháp tối cao nằm trong tay nhà vua, và quyền lực này được giao cho một tổ chức chịu trách nhiệm trực tiếp với nhà vua.

Xem thêm: xuất khẩu lao đông nhật bản diện kỹ sư

Hình thức của nhà nước chủ nô

i/ Các hình thức chính thể

Hình thức chính trị quân chủ và cộng hòa tồn tại và phát triển trong nhà nước chủ nô. Song do những điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau kèm theo đó là việc tổ chức và triển khai quyền tối cao của nhà nước ở mỗi quốc gia cũng mang tính đặc thù.

– Chế độ quân chủ

Là hình thức nhà nước phổ biến ở các quốc gia cổ đại phương đông.

Đặc điểm của nhà nước này là quyền lực nhà nước tập trung ở nguyên thủ quốc gia tức là vua và được hình thành theo nguyên tắc kế thừa.

Giúp việc cho vua là phải có một hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, nhưng chủ yếu là những người có quan hệ dòng họ hoặc thân cận

Hình thức chính quyền quân chủ cũng cho thấy vua là người có quyền lực vô hạn và có toàn quyền quyết định mọi việc từ nhà nước, không có thể chế nào hạn chế quyền lực của nhà

Chứng của nhà nước Ai Cập, pharaoh (vua) nắm mọi quyền hành của nhà nước, là chủ sở hữu của các vùng đất của các nước và trực tiếp thành lập nhiều điền trang ở Ai Cập. Hầu như không có sự phân biệt giữa tài sản của vua và tài sản của nhà nước.

– Chế độ cộng hòa

Bộc lộ rõ ​​ràng ở nhà nước phương tây, nhưng chế độ cộng hòa ở nhà nước phương tây bao gồm cộng hòa dân chủ và cộng hòa quý tộc Chế độ cộng hòa dân chủ tồn tại ở nhà nước Athen vào thế kỷ 5 và 4trước Công nguyên.

Ở nhà nước này, tất cả các cơ quan quyền lực nhà nước được hình thành do bầu cử và hoạt động theo nhiệm kỳ.

Hội đồng Công dân là cơ quan quyền lực cao nhất, họp khoảng 10 ngày một lần. Hội đồng công dân có quyền thảo luận và biểu quyết mọi vấn đề liên quan đến nhà nước, có quyền bầu ra các cơ quan và cá nhân thực hiện quyền lực nhà nước trong một thời gian nhất định.

Nhưng thực chất của nền cộng hòa dân chủ ở Athens là một nền cộng hòa dân chủ chủ nô. Vì Nhà nước Athen được xây dựng trên cơ sở tư hữu và quan hệ bóc lột nô lệ. Ông bảo vệ địa vị và quyền lợi của giai cấp chiếm hữu nô lệ. Chỉ có chủ nô và rất ít người lao động tự do được hưởng các quyền chính trị, trong khi phụ nữ, người nhập cư và nô lệ bị loại khỏi các hoạt động chính trị.

Chế độ cộng hòa quý tộc tồn tại sau thời Sparta (thế kỷ 7- 4trước Công nguyên) và La Mã (thế kỷ 5-2 trước Công nguyên).

ii/ Về hình thức cấu trúc

Hầu hết các quốc gia nô lệ đều có cấu trúc nhất thể. Trong giai đoạn đầu, các quốc gia thiếu cơ cấu nhà nước thành các đơn vị chức năng về chủ quyền hành chính và lãnh thổ. Cùng với sự lớn mạnh, các đơn vị chức năng hành chính lãnh thổ mới từng bước được thành lập.

iii/ Về chính trị Chính trị

Các quốc gia nô lệ chủ yếu sử dụng các chiến thuật phi dân chủ để thực hiện quyền tối cao của họ, trong khi các quốc gia phương Đông thực hiện quyền tối cao của mình thông qua chế độ độc tài toàn trị.

Các quốc gia phương Tây sử dụng ít nhiều các phương pháp dân chủ, nhưng vẫn có một chế độ quân chủ chuyên chế tàn bạo với đa số dân chúng.