Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất tại Mộc Châu (Sơn La): Lập hợp đồng ‘giả’, đòi tiền ‘thật’

0
6605
5/5 - (24 bình chọn)

Trong vụ án “tranh chấp quyền sử dụng đất tại Mộc Châu (Sơn La)”, Nguyên đơn nộp cho Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu tới: ba (03) bản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Điều đáng nói, bản hợp đồng – Nguyên đơn cho rằng là chứng cứ chứng minh Bị đơn nhận chuyển nhượng đất của mình nhưng không trả tiền – lại có đối tượng là thửa đất không có thật, đồng thời chính Nguyên đơn thừa nhận đây là ‘Hợp đồng giả tạo’

Bị đơn (Phạm Văn Trọng, Lê Thùy Dung) khẳng định: Từ quan hệ quen biết, Nguyên đơn (Trần Thu Hằng) nhờ Bị đơn ký vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có thật), để Nguyên đơn có cớ xin chậm thanh toán với chủ nợ. Tin Nguyên đơn, Bị đơn đã ký vào bản hợp đồng không có thật này.

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn, các Luật sư của Công ty Luật TNHH Everest nhận định: Yêu cầu của Nguyên đơn không có căn cứ. Hợp đồng (có công chứng) thì Nguyên đơn cho rằng là giả, trong khi hai (02) Hợp đồng còn lại (không có công chứng), trong đó một (01) hợp đồng có đối tượng là thửa đất không có thật (giả tạo). Giải thích của Nguyên đơn rất thiếu logic, thể hiện sự gian dối, có dấu hiệu Lừa đảo chiếm đoạt tài sản – Lập ‘hợp đồng giả’, ‘đòi tiền thật’. Nguyên đơn còn dùng các biện pháp kiểu xã hội đen, đe dọa, gây áp lực cho Bị đơn. Khi các biện pháp này không đạt kết quả, Nguyên đơn khởi kiện, mục đích dùng bản án của Tòa án để hợp pháp hóa hành vi lừa đảo.

– Nguyên đơn lý giải thế nào về lập ‘hợp đồng giả’, nhưng ‘đòi tiền thật’?

Đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, Nguyên đơn trình bày:

Ngày 03/04/2017, Nguyên đơn có nhận chuyển nhượng của ông Đinh Công Dũng và vợ là bà Hà Thị Hòa một thửa đất có diện tích 452,7 m2 (chiều dài mặt đường là 12 m, chiều sâu hết đất) tại tiểu khu 32, thị trấn Nông Trường, Mộc Châu với giá 1.680.000.000 đồng (một tỷ, sáu trăm tám mươi triệu đồng). Diện tích đất ông Đinh Công Dũng, bà Hà Thị Hòa chuyển nhượng cho Nguyên đơn nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D907536 do Ủy ban nhân dân huyện Mộc Châu cấp ngày 29/09/2004, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 00056 QSDĐ 1123.

Ngày 03/04/2017, Nguyên đơn đặt cọc trước 300.000.000 đồng. Đến hết ngày 05/04/2017 Nguyên đơn trả tiếp cho ông Đinh Công Dũng, bà Hà Thị Hòa số tiền 1.200.000.000 đồng, hẹn sau khi hoàn thiện thủ tục sang tên đổi chủ tôi sẽ thanh toán nốt số tiền còn lại là 180.000.000 đồng.

Do không có nhu cầu sử dụng mảnh đất diện tích 452,7 m2 tại tiểu khu 32, thị trấn Nông trường Mộc Châu nữa, nên Nguyên đơn đã chuyển nhượng lại cho Bị đơn (Phạm Văn Trọng và Lê Thùy Dung). Nguyên đơn đã nhờ ông Đinh Công Dũng, bà Hà Thị Hòa trực tiếp ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với Bị đơn vào ngày 08/10/2018.

Để đảm bảo trách nhiệm trong việc chuyển nhượng đất giữa Nguyên đơn và Bị đơn, ngày 03/01/2019 Nguyên đơn và Bị đơn đã lập hợp đồng chuyển nhượng đất là 2.700.000.000 đồng (hợp đồng giả tạo). Tại thời điểm ký kết hợp đồng Bị đơn mới đưa cho Nguyên đơn số tiền đặt cọc là 247.000.000 đồng, còn nợ lại 2.453.000.000 đồng hứa sẽ trả hết sau 1,5 năm kể từ ngày ký kết hợp đồng. Tuy nhiên cho tới nay đã 02 năm mà Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Vì vậy, Nguyên đơn đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết buộc Bị đơn có trách nhiệm trả cho Nguyên đơn toàn bộ số tiền nhận chuyển nhượng đất còn nợ là 2.453.000.000 đồng. Nếu không trả được tiền thì trả lại đất.

Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất tại Mộc Châu (Sơn La): Lập hợp đồng 'giả', đòi tiền 'thật'
Hồ sơ địa chính thể hiện ba (03) thửa đất khác nhau: Thửa đất số 87a (523,3 m2), Thửa đất số 87 (150 m2), Thửa đất số 87b (452,7 m2)

– Bị đơn (Lê Thùy Dung) phản tố và đưa ra những căn cứ chứng minh hành vi gian dối của nguyên đơn (Trần Thu Hằng) trong vụ án này

  • Về Hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/01/2019:

Ngày 03/01/2019, Nguyên đơn (Trần Thu Hằng) đến nhà nhờ Bị đơn (Phạm Văn Trọng, Lê Thùy Dung) ký hộ một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, nội dung: “Quyền sử dụng đất đối với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 907536, mang tên Hà Thị Hòa, diện tích đất sử dụng là 776 m2 thuộc tờ bản đồ số 28, Thửa đất 87; đất ở diện tích là 150 m2 sử dụng lâu dài, Thửa đất số 87a diện tích đất là 452,7 m2 địa chỉ tiểu khu 32 thị trấn Nông Trường, Mộc Châu, Sơn La” – gọi tắt là “Hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/01/2019”.

Theo lời Nguyên đơn: trước đó, Nguyên đơn có vay tiền của anh trai của anh Nguyễn Anh Nhạ (người lúc đó đang có quan hệ tình cảm với Nguyên đơn). Lúc đó, chủ nợ (từ Bình Dương) đến nhà Nguyên đơn đòi nợ. Do đó, Nguyên đơn nhờ Bị đơn ký Hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/01/2019 làm cớ xin chậm thanh toán.

Xem xét Hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/01/2019 Bị đơn thấy rằng: Thửa đất số 87a diện tích đất là 452,7 m2, không có thật. Bởi, tại thời điểm ngày 03/01/2019, Bị đơn đang là chủ sở hữu của một thửa đất có diện tích 452,7 m2, nhưng là Thửa đất số 87b, tờ bản đồ số 28, tại địa chỉ tiểu khu 32 thị trấn Nông Trường, Mộc Châu, Sơn La. Nghĩa là, đối tượng của Hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/01/2019 không có thật. Đương nhiên, số tiền ghi trong hợp đồng cũng không có thật. Hợp đồng cũng không công chứng, Bị đơn cũng chỉ ký vào một (01) bản Hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/0/1/2019 đưa cho Nguyên đơn (Trần Thu Hằng) giữ.

Là bạn bè và một số công việc kinh doanh chung, Bị đơn đã đồng ý giúp Nguyên đơn . Bị đơn không ngờ, Nguyên đơn đã có ý định lừa đảo: dùng Hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/01/2019 (giả tạo) để khởi kiện Bị đơn ra Tòa án, buộc Bị đơn trả số tiền nhận chuyển nhượng đất còn nợ.

  • Về Hợp đồng chuyển nhượng ngày 08/10/2018:

Trong hồ sơ của vụ án có tài liệu là: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ký ngày 08/10/2018 tại Văn phòng Công chứng Đặng Vĩnh Mình tại Tiểu khu 40, thị trấn Nông trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, số công chứng 4169, giữa Bị đơn và bà Hà Thị Hòa và ông Đinh Công Dũng – gọi tắt là “Hợp đồng chuyển nhượng ngày 08/10/2018”. Bản chất của sự việc này như sau:

Khoảng tháng 10/2018, qua lời giới thiệu của Nguyên đơn, Bị đơn được biết: có một thửa đất diện tích khoảng 452,7 m2, tại tiểu khu 32 thị trấn Nông Trường, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, chủ đất cần bán.

Khi kiểm tra giấy tờ thì thấy rằng, diện tích đất nêu trên mang tên bà Hà Thị Hòa và ông Đinh Công Dũng, cùng có hộ khẩu tại tiểu khu 32 thị trấn Nông trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Ngày 08/10/2018, hai bên đã lập Hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng Công chứng Đặng Vĩnh Mình tại Tiểu khu 40, thị trấn Nông trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, số công chứng 4169, giá chuyển nhượng thửa đất nêu trên là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Trong hợp đồng đã ghi rõ: (-) Hai bên đồng ý việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo các thỏa thuận; (-) Các bên đã tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng này; (-) Tại thời điểm công chứng các bên giao kết hợp đồng có năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật; (-) Mục đích của hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; (-) Các bên giao kết đã đọc lại dự thảo hợp đồng này, đã đồng ý toàn bộ nội dung hợp đồng đã ký và điểm chỉ vào hợp đồng này trước sự có mặt của tôi (Công chứng viên Đặng Xuân Mình).

Ngày 31/10/2018, Bị đơn đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 112304 mang tên Bị đơn (Lê Thùy Dung, Phạm văn Trọng), số vào sổ cấp giấy: CS 05247, Quyết định số 959/QĐ-VPĐKĐĐ.

Ngày 20/11/2018, Bị đơn đã thế chấp thửa đất nêu trên tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội, chi nhánh Sơn La, phòng Giao dịch Mộc Châu (theo hồ sơ số 3313/ĐKTC-VPĐK) từ ngày 20/11/2018 đến ngày 29/03/2021. Đến ngày 29/03/2021, Bị đơn mới thực hiện thủ tục xóa thế chấp đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất nêu trên tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Mộc Châu.

Bị đơn khẳng định: Hợp đồng chuyển nhượng ngày 08/10/2018 là có thật, hợp pháp được lập và chứng thực bởi Công chứng viên Đặng Xuân Mình.

  • Về Hợp đồng chuyển nhượng ngày 05/4/2017:

Trong hồ sơ của vụ án có tài liệu: Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 05/4/2017, giữa Bên chuyển nhượng là bà Hà Thị Hòa… và ông Đinh Công Dũng …, cùng có hộ khẩu tại tiểu khu 32 thị trấn Nông trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và Bên nhận chuyển nhượng là: bà Trần Thu Hằng…, có hộ khẩu Tiểu khu Bản Mòn, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La – gọi tắt là “Hợp đồng chuyển nhượng ngày 05/4/2017”.

Hồ sơ vụ án thể hiện: Thông tin về thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận là Thửa đất số 87Thửa đất số 87a, diện tích 776 m2, trong đó đất ở là 150 m2 (thửa đất số 87) đất ở là 626 m2 (Thửa đất số 87a). Đây là giao dịch giữa bà Hà Thị Hòa, ông Đinh Công Dũng và Nguyên đơn. Hợp đồng không được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Đồng thời, các thửa đất này đang được thế chấp tại Quỹ Tín dụng nhân dân thị trấn Nông trường Mộc Châu, theo Hợp đồng số 615/HĐ ngày 21/4/2011, xóa nội dung thế chấp vào 10/4/2017. Nghĩa là theo pháp luật, bà Hà Thị Hòa, ông Đinh Công Dũng và Nguyên đơn không thể giao dịch các thửa đất này. Tuy nhiên, bản chất của giao dịch này, Bị đơn không biết và không chứng kiến và không liên quan đến Bị đơn.

  • Bị đơn khẳng định Hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/01/2019 vô hiệu do giả tạo: 

Thứ nhất, đối tượng của Hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/01/2019 không tồn tại (giả). Tại thời điểm này 03/1/2019, thửa đất 87a tại tiểu khu 32 thị trấn Nông trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, không có diện tích đất 452,7 m2 như trong Hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/01/2019 nêu. Thực tế là có một (01) thửa đất có diện tích đất 452,7 m2 (Thửa đất số 87b) tại tiểu khu 32 thị trấn Nông trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và thửa đất này thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Bị đơn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN112304, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La cấp ngày 31/10/2018. Hiện nay, quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 87, 87a vẫn mang tên bà Hà Thị Hòa, ông Đinh Công Dũng.

Thứ hai, Nguyên đơn cho rằng: mình mới là người chuyển nhượng quyền sử dụng đất (một thửa đất khác) cho Bị đơn vào ngày 08/10/2018. Nguyên đơn đã thừa nhận đây là “hợp đồng giả tạo”. Cụ thể, đơn khởi kiện Nguyên đơn nêu là “Tôi đã nhờ ông Dũng, bà Hòa trực tiếp ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Trọng, bà Dung vào ngày 08/10/2018… để đảm bảo trách nhiệm trong việc chuyển nhượng đất giữa tôi và ông Trọng, bà Dung…”.

Thứ ba, sự việc mà mà Nguyên đơn trình bày hết sức mâu thuẫn: “tôi đã nhờ ông Dũng, bà Hòa trực tiếp ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với ông Trọng, bà Dung…”, trong khi hồ sơ vụ án: không có căn cứ nào thể hiện ba bên: Nguyên đơn (Trần Thu Hằng), Bị đơn (Phạm Văn Trọng, Lê Thùy Dung), và ông Đinh Công Dũng, bà Hà Thị Hòa có thỏa thuận này. Tiếp theo, giả sử có sự việc Bị đơn nợ tiền thì tại sao không có Giấy vay nợ lập vào ngày 08/10/2018 mà chuyển thành “Hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/01/2019”. Chứng cứ này chỉ chứng minh: Nguyên đơn đã lừa Bị đơn ký vào Hợp đồng.

Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất tại Mộc Châu (Sơn La): Lập hợp đồng 'giả', đòi tiền 'thật'
‘Xã hội đen’ Livestream trên Facebook, Kéo người đến thửa đất để phun sơn, viết lên tường với nội dung: “đất tranh chấp”
  • Về hành vi có dấu hiệu lừa đảo của Nguyên đơn:

Nguyên đơn không chỉ dùng hợp đồng giả tạo này để khởi kiện đòi Bị đơn trả tiền (hoặc trả đất) tại Tòa án, Nguyên đơn và một số đối tượng  còn sử dụng cách thức đòi nợ kiểu “xã hội đen” để gây áp lực như: (i) Đăng bài viết, phát trực tiếp (Livestream) trên mạng xã hội (Facebook), các hội nhóm không đúng sự thật về Bị đơn; (ii) Kéo người đến tại thửa đất để phun sơn, viết lên tường với nội dung: “đất tranh chấp”. Điều này đã xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của Bị đơn.

Bị đơn cho rằng, lời khai của Nguyên đơn không đáng tin cậy. Do đó, Bị đơn đề nghị Tòa án chuyển vụ việc sang cơ quan điều tra để làm rõ hành vi có dấu hiệu lừa đảo của Nguyên đơn, không thể để Nguyên đơn tiếp tục dùng các thủ đoạn gian dối lừa mọi người ký giấy tờ vay tiền và dùng Tòa án như một công cụ để hợp pháp hóa các hành vi lừa đảo.

Bị đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu: (1) Bác yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn (Trần Thu Hằng); (2) Công khai xin lỗi do đã xâm phạm, gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, gây mất uy tín và: (3) Bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần cho Bị đơn do các hành vi kể trên.

– Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.