Hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả vụ việc – Hành vi vi phạm quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư

0
112
5/5 - (1 bình chọn)

Cam kết bảo đảm kết quả vụ việc về những nội dung nằm ngoài khả năng, điều kiện thực hiện của luật sư là một trong những việc luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng.

Hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả vụ việc
Bài viết được thực hiện bởi Luật gia Trần Thị Thu Hoài – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả vụ việc là gì?

Hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả vụ việc được hiểu là hành vi của Luật sư tự dự liệu được kết quả của một vụ việc nào đó trong tương lai và chính thức cam đoan với khách hàng là sẽ làm đúng những điều đã dự định trước đó. Ví dụ là việc Luật sư cam kết với khách hàng chắc chắn sẽ thắng kiện, tỷ lệ thắng là 90% hay cam kết hành vi vi phạm của khách hàng sẽ được tuyên án treo….

Các hình thức hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả vụ việc có thể được thể hiện trên những điều khoản trong hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng, có thể là bằng lời nói hoặc sự không rõ ràng khiến cho khách hàng hiểu lầm về phạm vi công việc của Luật sư.

Hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả vụ việc – Luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng

Quy tắc 9 Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019 của Hội đồng luật sư toàn quốc quy định về những việc luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng như sau: “9.1. Nhận, chiếm giữ, sử dụng tiền, tài sản của khách hàng trái với thỏa thuận giữa luật sư và khách hàng. 9.2. Gợi ý, đặt điều kiện để khách hàng tặng cho tài sản hoặc lợi ích khác cho luật sư hoặc cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em của luật sư. 9.3. Nhận tiền hoặc bất kỳ lợi ích nào khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện công việc gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng. 9.4. Tạo ra hoặc lợi dụng các tình huống xấu, những thông tin sai sự thật, không đầy đủ hoặc bất lợi cho khách hàng để gây áp lực nhằm tăng mức thù lao đã thỏa thuận hoặc có được lợi ích khác từ khách hàng. 9.5. Sử dụng thông tin biết được từ vụ việc mà luật sư đảm nhận để mưu cầu lợi ích không chính đáng. 9.6. Thông tin trực tiếp cho khách hàng hoặc dùng lời lẽ, hành vi ám chỉ để khách hàng biết về mối quan hệ cá nhân của luật sư với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác nhằm mục đích gây niềm tin với khách hàng về hiệu quả công việc hoặc nhằm mục đích bất hợp pháp khác. 9.7. Cố ý đưa ra những thông tin làm cho khách hàng nhầm lẫn về khả năng và trình độ chuyên môn của mình để tạo niềm tin cho khách hàng ký kết hợp đồng. 9.8. Hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả vụ việc về những nội dung nằm ngoài khả năng, điều kiện thực hiện của luật sư. 9.9. Lợi dụng nghề nghiệp để quan hệ tình cảm nam nữ bất chính với khách hàng. 9.10. Lạm dụng các chức danh khác ngoài danh xung luật sư trong hoạt động hành nghề để mưu cầu lợi ích trái pháp luật”.

Như vậy theo quy tắc 9.8 nêu trên thì hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả vụ việc về những nội dung nằm ngoài khả năng, điều kiện thực hiện của luật sư là một trong những việc luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng.

Thực tiễn cho thấy trong quá trình hành nghề, thương thảo ký kết hợp đồng dịch vụ với khách hàng, Luật sư thường bối rối trước các câu hỏi thăm dò của khách hàng như vụ việc có thắng kiện được không? Tỷ lệ/ khả năng là bao nhiêu? Hành vi vi phạm này bị tuyên bao nhiêu năm tù giam?… Không ít Luật sư đã đưa ra những khẳng định, hứa hẹn vượt ngoài tầm kiểm soát của Luật sư, thậm chí sẵn sàng cam kết, hứa hẹn kết quả vụ việc để thu được thù lao cao hơn.

Việc hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả là một hành vi sai phạm có tính chất nghiêm trọng bởi: Thứ nhất, hành vi này đã vi phạm những chuẩn mực, thước đo ứng xử và đạo đức nghề nghiệp trong Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam. Thứ hai, việc hứa hẹn cam kết bảo đảm vụ việc là hành vi đi ngược lại thực tế khách quan do một vụ án có thể sẽ phải qua nhiều cấp xét xử. Luật sư hay thậm chí cả thẩm phán cũng không có quyền quyết định bản án mà thẩm quyền này thuộc về hội đồng xét xử. Cho dù một Luật sư có khả năng chuyên môn giỏi và bề dày kinh nghiệm đến đâu, cũng không thể khẳng định chắc chắn mức án hay kết quả của vụ án. Chỉ có bản án có hiệu lực của Tòa án nhân dân có thẩm quyền mới quy định được các vấn đề này.

Rủi ro pháp lý đối với khách hàng

Khi khách hàng thỏa thuận với Luật sư về việc hứa hẹn, bảo đảm kết quả vụ việc, khách hàng có thể phải đối mặt với những rủi ro như sau:

Thứ nhất, không thể khởi kiện yêu cầu Luật sư bồi thường khi kết quả vụ án không đúng như cam kết của luật sư bởi sự cam kết này không được pháp luật thừa nhận. Quy tắc đạo đức nghề nghiệp không cho phép luật sư hứa hẹn, cam kết về kết quả bởi luật sư không có quyền trong việc quyết định bản án. Nếu luật sư nào hứa hẹn, cam kết với khách hàng, có nghĩa rằng Luật sư đó đã vi phạm đạo đức nghề nghiệp và có thể đang có mục đích lừa dối khách hàng để hưởng thù lao.

Thứ hai, không thể “quy chụp” trách nhiệm của Luật sư do bất đồng quan điểm về chất lượng dịch vụ. Trong trường hợp khách hàng và Luật sư có sự thỏa thuận về hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả vụ việc nhưng không rõ ràng khiến khách hàng hiểu lầm về phạm vi công việc của Luật sư dẫn đến bất đồng quan điểm khi Luật sư thì cho rằng như vậy là đã hoàn thành nhiệm vụ trong khi khách hàng lại cho rằng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu.

Thứ ba, gánh chịu thiệt hại về kinh tế. Khi lựa chọn một luật sư nào đó, thông thường khách hàng sẽ phải thanh toán 50% phí dịch vụ ngay khi ký kết hợp đồng. Dù kết quả vụ án thế nào, dù thắng hay thua thì khách hàng cũng phải thanh toán đầy đủ 50% còn lại mà không có nhiều cơ hội để phản biện.

Xử lý hành vi hứa hẹn bảo đảm cam kết kết quả vụ việc

Như đã phân tích hành vi hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả vụ việc là một hành vi bị cấm trong thực tiễn hành nghề của Luật sư chính vì vậy nếu Luật sư thực hiện hành vi này sẽ bị xử lý theo quy định của Luật luật sư năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012.

Khoản 1 Điều 85 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 có quy định về các hình thức xử lý kỷ luật đối với luật sư như sau: “1. Luật sư vi phạm quy định của Luật này, Điều lệ, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam và quy định khác của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau đây: a) Khiển trách; b) Cảnh cáo; c) Tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư từ sáu tháng đến hai mươi bốn tháng; d) Xóa tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn luật sư”.

Ngoài quy định tại Luật luật sư thì hành vi vi phạm Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư còn bị xử lý theo Quy chế giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý kỷ luật Ban hành kèm theo Quyết định số 203/QĐ-HĐLSTQ ngày 19 tháng 12 năm 2019 của Hội đồng Luật sư toàn quốc. Theo đó quy chế này cũng ghi nhận hình thức xử lý kỷ luật như Khoản 1 Điều 85 nêu trên tại Khoản 1 Điều 27 ở Mục 2: Áp dụng hình thức kỷ luật luật sư, tuy nhiên Điều 28, 29, 30, 31 quy chế này quy định cụ thể hơn về 04 hình thức xử lý. Theo đó, có thể hiểu sơ bộ hình thức khiển trách áp dụng với Luật sư có hành vi vi phạm lần đầu, mức độ nhẹ, có thiện chí khắc phục; hình thức cảnh cáo áp dụng với Luật sư đã bị xử lý khiển trách hoặc cảnh cáo, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín nghề, gây thiệt hại không lớn hoặc lớn nhưng đã khắc phục với tính chất ít nghiêm trọng; hình thức tạm đình chỉ tư cách thành viên áp dụng trong trường hợp Luật sư đã bị cảnh cáo, gây thiệt hại không lớn hoặc lớn nhưng đã khắc phục toàn bộ, ảnh hưởng rất xấu đến uy tín nghề; hình thức xóa tên khỏi danh sách áp dụng khi Luật sư có hành vi vi phạm nghiêm trọng như gây ảnh hưởng đặc biệt xấu, có tính chất lừa dối, cấu kết, kích động nội bộ….

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.