Pháp luật chủ nô

Bởi Phạm Nhật Thăng - 05/11/2023
view 0
comment-forum-solid 0
Cũng như Nhà nước chủ nô, pháp luật chủ nô ra đời, phát triển trên cơ sở quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ và thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc. Pháp luật chủ nô là ý chí của giai cấp chủ nó được nâng lên thành luật.

1- Sự ra đời của pháp luật chủ nô

Pháp luật chủ nô (pháp luật chiếm hữu nô lệ) là kiểu pháp luật đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người, xuất hiện sớm nhất vào khoảng 4000 năm trước Công nguyên tại Ai Cập cổ đại, 2000 năm trước Công nguyên (TCN) ở Trung Quốc và Ấn Độ.

Xét theo bản chất, vai trò giai cấp, thì pháp luật chiếm hữu nô lệ là công cụ để thể chế hóa, phục vụ và bảo vệ quyền lợi của giai cấp chủ nô, đàn áo giai cấp nô lệ. Đặc điểm của pháp luật chiếm hữu nô lệ thể hiện ở những nhiệm vụ cơ bản của nó như bảo vệ, củng cố chế độ sở hữu tư nhân của giai cấp chủ nô về tư liệu sản xuất và nô lệ; chế độ bất bình đẳng giữa chủ nô và nô lệ, xem nô lệ chỉ là một thứ công cụ biết nói; quyền lực tuyệt đối của người chồng, người cha trong gia đình; quyền lực của tôn giáo...

Pháp luật chiếm hữu nô lệ cũng có những đặc điểm giống pháp luật phong kiến như chịu ảnh hưởng sâu sắc của các tư tưởng tôn giáo, có các hình phạt dã man, tàn bạo.

Pháp luật chiếm hữu nô lệ có các bộ luật nổi tiếng như Bộ luật Hammurapi thế kỷ thứ XVIII trước Công nguyên của nhà nước Babylon, Bộ luật Manu thế kỷ thứ II trước Công nguyên của Ấn Độ, Bộ luật Dracon năm 621 trước Công nguyên của Hi Lạp cổ đại, Bộ luật XII bảng thế kỷ thứ V trước Công nguyên của nhà nước La Mã cổ đại.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hành chính của Công ty Luật TNHH Everest

2- Các kiểu pháp luật chủ nô

Pháp luật chủ nô là kiểu pháp luật đầu tiên trong lịch sử, ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước chủ nô. Kiểu pháp luật này được xây dựng trên cơ sở quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ và mâu thuẫn đối kháng gay gắt giữa chủ nô với nô lệ. Thông qua các thư tịch cổ, đặc biệt thông qua các quy định trong các bộ luật nổi tiếng còn tồn tại như Bộ luật Hammourabi của Babilon cổ đại, Luật Dracon của Hy Lạp cổ đại, Bộ luật Manou của Ấn Độ cổ đại và Bộ luật 12 bảng của La Mã cổ đại...

Có thể thấy, pháp luật chủ nô có một số đặc điểm sau:

Một là, pháp luật chủ nô tạo cơ sở pháp lý cho việc củng cố và bảo vệ quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ, hợp pháp hoá chế độ bóc lột của chủ nô đối với nô lệ

Pháp luật chủ nô ghi nhận quyền tư hữu tuyệt đối và vô giới hạn của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và nô lệ, coi nô lệ chỉ là “công cụ”, là “tài sản biết nói” của chủ, chủ nô có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với nô lệ như đối với các tài sản khác, có quyền chiếm đoạt toàn bộ kết quả lao động, có quyền đánh đập, chửi mắng, mua, bán, tặng, cho thậm chí giết chết nô lệ, khi chủ nô chết, nô lệ có thể bị chôn theo chủ, kể cả chôn sống.

Giá của nô lệ rất rẻ mạt, chẳng hạn ở Trung Quốc, năm nô lệ mới đổi được một con ngựa và một cuộn tơ. Mọi biểu hiện chống đối chủ nô, giúp nô lệ bỏ trốn, xâm phạm sở hữu của chủ nô, kể cả những trường hợp ưộm cắp vặt đều bị trừng phạt nghiêm khắc bằng những hình phạt hết sức dã man như cắt tai, xẻo mũi, chặt chân tay, giết chết.

Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định nhiều biện pháp để biến người tự do thành nô lệ. Chẳng hạn, pháp luật thừa nhận chế độ cho vay nặng lãi, nếu con nợ không có khả năng trả nợ khi đến hạn thì chủ nợ có thể bắt bản thân con nợ hoặc vợ con của họ làm nô lệ. Ngoài ra, những người phạm tội cũng có thể bị bắt làm nô lệ thay cho việc áp dụng các hình phạt khác.

Hai là, pháp luật chủ nô quy định một hệ thống hình phạt và cách thi hành hình phạt hết sức dã man, tàn bạo

Để bảo vệ lợi ích của mình, giai cấp chủ nô thông qua nhà nước ban hành các quy định pháp luật hết sức dã man. Các tội dù nặng hay nhẹ đều bị áp dụng các hình phạt có tính chất nhục hình với mục đích làm cho tội nhân đau đớn về mặt thể xác, sợ hãi về mặt tinh thần để họ không dám chống đối.

Hình phạt tử hinh được quy định và áp dụng khá phổ biến với cách thi hành hình phạt rất dã man, tàn bạo như tùng xẻo, treo cổ, cho vào vạc dầu sôi, thiêu sống hay chôn sống... Những hình phạt khác cũng rất dã man như chặt tay, chặt chân, cắt lưỡi, thích chữ lên mặt... Điều này làm cho pháp luật chủ nô trở thành kiểu pháp luật vô nhân đạo nhất trong lịch sử.

Ba là, pháp luật chủ nô ghi nhận và củng cố tình trạng bất bình đẳng trong xã hội và trong gia đình.

Theo quy định của pháp luật chủ nô, quan hệ giữa chủ nô với nô lệ là quan hệ bất bình đẳng tuyệt đối, chủ nô có toàn quyền, nô lệ chỉ có nghĩa vụ. Ở nhiều nước, pháp luật chủ nô còn ghi nhận tình trạng bất bình đẳng giữa các đẳng cấp trong xã hội thông qua việc phân chia xã hội thành nhiều đẳng cấp với những quyền, nghĩa vụ pháp lý khác nhau.

Pháp luật chủ nô còn ghi nhận và củng cố tình trạng bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình, bảo vệ sự thống trị tuyệt đối của người chồng, người cha trong gia đình. Chẳng hạn, Bộ luật Manou quy định người vợ là do được người chồng mua về, tất cả của hồi môn của vợ trở thành sở hữu của chồng. Bộ luật 12 bảng của La Mẫ thừa nhận tài sản của gia đình do người chồng quản lý, con gái lấy chồng phải phụ thuộc vào chồng, người cha có quyền bán con làm nô lệ...

Bốn là, pháp luật chủ nô có tính tản mạn, thiếu thống nhất.

Do trình độ phát triển của xã hội thấp, nhận thức của con người còn hạn chế nên các nhà lập pháp không xác định được rõ quan hệ xã hội nào thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật, quan hệ nào thuộc đối tượng điều chỉnh của các tín điều tôn giáo... Vì thế, nhiều tư tưởng tôn giáo được thể chế hoá thành pháp luật, nhiều tín điều tôn giáo được thừa nhận, nâng lên thành pháp luật.

Pháp luật chủ nô chưa có sự phân chia thành từng lĩnh vực hay từng ngành luật một cách rõ ràng, các bộ luật trong thời gian này đều là những bộ luật tổng hợp, điều chỉnh các quan hệ xã hội trong nhiều lĩnh vực như dân sự, hình sự, hôn nhân gia đình, tố tụng... Các biện pháp cưỡng chế được quy định trong các bộ luật này đều là hình phạt.

Pháp luật chủ nô được hình thành chủ yếu bằng con đường thừa nhận các phong tục tập quán, quy tắc đạo đức và tín điều tôn giáo trong xã hội. Điều này thể hiện khá rổ qua các quy định trong Bộ luật Hammourabi, Luật Dracon, Luật 12 bảng của La Mã, Bộ luật Manou... Trong khi đó, tôn giáo, tín ngưỡng giai đoạn này khá phức tạp, trong xã hội có nhiều loại tôn giáo khác nhau, phong tục tập quán cũng rất khác nhau giữa các vùng, miền, địa phương... làm cho pháp luật chủ nô có tính tản mạn, không thống nhất.

Xem thêm: Pháp lý tái cấu trúc doanh nghiệp của Công ty Luật TNHH Everest

3- Hình thức của pháp luật chủ nô

Pháp luật chủ nô là kiểu pháp luật đầu tiên trong lịch sử loài người. Khi mới ra đời, nó tồn tại chủ yếu dựa dạng pháp luật không thành văn và chưa hình thành một hệ thống chuẩn mực bền vững. Do vậy, hình thức biểu hiện của chúng cũng rất đa dạng.

Hình thức phổ biến của pháp luật chủ nô là tập quán pháp. Nhà nước chủ nô thừa nhận những tập quán đã và đang tồn tại trong xã hội cộng sản nguyên thủy thành pháp luật và đảm bảo cho chúng được thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước. Những tập quán được Nhà nước chủ nô duy trì và phát triển thường là những quy tắc xử sự có lợi đối với giai cấp chủ nô và xã hội hoặc là chúng được vận dụng, được áp dụng sao cho có lợi nhiều nhất cho giai cấp chủ nô.

Ngoài tập quán pháp ra, các quyết định của các cơ quan nhà nước chủ nô hoặc của cá nhân chủ nô khi giải quyết một trường hợp cụ thể nào đó cũng được thừa nhận là khuôn mẫu để giải quyết những trường hợp tương tự.

Cùng với sự phát triển của chữ viết trong xã hội chiếm hữu nô lệ là sự hình thành và phát triển pháp luật thành văn. Nhiều Nhà nước chủ nô đã ban hành các văn bản pháp luật ở nhiều dạng khác nhau và được chép trên các loại vật liệu khác nhau như gỗ, tre, da súc vật... Thời kỳ đầu, các văn vần pháp luật chủ yếu là sao chép lại một cách có hệ thống những tập quán pháp không thành văn. Tuy nhiên, cũng có những Nhà nước chủ nô đã xây dựng được những bộ luật tổng hợp khá công phu và tương đối hoàn chỉnh. Có thể nêu ra một số bộ luật nổi tiếng còn được biết đến như:

Bộ luật Hammurapi của Nhà nước chủ nô Babilon thế kỷ thứ XVIII tr.CN. Bộ luật gồm 282 điều, quy định về các vấn đề như quyền lực của vua, tổ chức bộ máy nhà nước, lãnh thổ, tài sản, thuế, sở hữu, hôn nhân và gia đình... Trongbộ luật đã có lời nói đầu và các vấn đề đã được sắp xếp theo một trật tự nhất định.

Bộ luật Mạnh của Nhà nước chủ nô ấn Độ thế kỷ thứ II TCN. Bộ luật gồm 2685 điều chép lại tập quán và các quy định của các thời đai trước.

Luật Đôracông của Nhà nước chủ nô Hy Lạp năm 621 TCN. Đây là đạo luật nổi tiếng hà khắc mà người đương thời cho là nó được viết bằng máu vì tất cả mọi tội lớn nhỏ trong luật này đều có mức án tử hình. Trong luật Đôracông, nguyên tắc "ăn miếng trả miếng" đã bị loại bỏ. Hành vi giết người không còn coi là gây thiệt hại tài sản mà đã được coi là tội phạm. Trong luật cũng đã có sự phân định khái niệm lỗi cố ý và lỗi vô ý.

Luật mười hai bảng của Nhà nước chủ nô La Mã thế kỷ thứ V TCN là bộ luật hoàn thiện nhất. Chế định sở hữu tư nhân trong luật này rất phát triển. Theo nhận xét của Ăngghen thì "pháp quyền La Mã là sự biểu hiện pháp lý cổ điển của những điều kiện sinh sống và những sự xung đột của một xã hội, trong đó sở hữu tư nhân thuần tuý thống trị đến nỗi mọi đạo luật sau này không thể đưa vào đó bất cứ một sự hoàn thiện căn bản nào".

Luật La Mã có những quy định chính xác về nhiều khái niệm pháp lý như khái niệm chủ thể pháp luật, khái niệm năng lực pháp luật, các vấn đề về sở hữu, hợp đồng, tội phạm và sự trừng phạt, các quy định về thủ tục tố tụng ... Luật La Mã được coi là đạo luật đầu tiên mang ý nghĩa quốc tế của xã hội sản xuất hàng hoá. Nó được coi là "khuôn vàng thước ngọc", được sao chép và được sử dụng ở nhiều nước kể cả các nước phong kiến và tư sản sau này.

Xem thêm:

4- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

(i) Bài viết Pháp luật chủ nô được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

(ii) Bài viết Pháp luật chủ nô có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

(iii) Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.26928 sec| 1053.836 kb