Xử lý trường hợp tái phạm hành vi trộm cắp tài sản

Bởi Trần Thu Thủy - 09/01/2020
view 652
comment-forum-solid 0

Nội dung bài viết [Ẩn]

Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản...

Câu hỏi tư vấn:

Chồng tôi đã trộm một chiếc xe suzuki sport nhưng chưa tiêu thụ được vì bị bắt quả tang. Vào năm 2008, chồng tôi cũng đã phạm tội này 1 lần, mức phạt là 9 tháng tù giam. Ba chồng tôi có công với cách mạng nhưng mất cách đây 1 năm, chồng tôi là trụ cột chính của gia đình, mẹ chồng thì già yếu, tôi đang mang thai được 2 tuần, gia đình tôi cũng đã đến bồi thường cho người bị hại, nhờ họ viết đơn bãi nại. Chồng tôi đi làm chuyện dại dột vì bị bạn bè dụ dỗ vào con đường cờ bạc nên nợ nần. Xin hỏi luật sư chồng tôi bị án thuộc khoản mấy, và liệu có được hưởng án treo không

Luật sư trả lời:

Tại Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về Tội trộm cắp tài sản như sau:

“Điều 138. Tội trộm cắp tài sản:1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:a) Có tổ chức;b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Tái phạm nguy hiểm;d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;đ) Hành hung để tẩu thoát;e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;g) Gây hậu quả nghiêm trọng.3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”.

Thứ nhất, xác định khung hình phạt

- Về xóa án tích: Khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự quy định:“1. Toà án quyết định việc xoá án tích đối với những người đã bị kết án về các tội quy định tại Chương XI và Chương XIV của Bộ luật này, căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án trong các trường hợp sau đây:a) Đã bị phạt tù đến ba năm mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;b) Đã bị phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn bảy năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;c) Đã bị phạt tù trên mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn mười năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án”.

Năm 2008, chồng bạn phạm tội trộm cắp tài sản và bị kết án 9 tháng tù giam, không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từ khi chấp hành xong bản án; đối chiếu với quy định nêu trên thì chồng bạn đã được xóa án tích.

- Tái phạm, tái phạm nguy hiểm: Điều 49 Bộ luật hình sự quy định:“1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:a) Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;b) Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý”.

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp phạm tội của chồng bạn không phải là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

Giá trị tài sản trộm cắp: chưa xác định. Do bạn không đề cập đến giá trị của chiếc xe chồng bạn đã trộm cắp, nên chúng tôi xin đưa ra các tình huống như sau:

Tình huống 1: Nếu chiếc xe có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng: Ở tìntháng đến ba năm.

Tình huống 2:, chồng bạn không thuộc trường hợp tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm, đã được xóa án tích, không gây hậu quả nghiêm trọng và giá trị tài sản trộm cắp không quá năm mươi triệu đồng. Vậy, chồng bạn phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, khung hình phạt: phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáuNếu chiếc xe có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên: ở tình huống này, tùy thuộc vào giá trị tài sản trộm cắp để xác định chồng bạn phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 2, 3 hoặc 4 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Thứ hai, về hình phạt

Khoản 1 Điều 60 Bộ luật hình sự quy định về điều kiện cho hưởng án treo:“1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm”.

Vậy, vấn đề xem xét cho hưởng án treo chỉ đặt ra khi chồng bạn bị phạt tù không quá ba năm. Trường hợp chồng bạn phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, hình phạt đối với chồng bạn có thể là phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Trường hợp này có thể được xem xét cho hưởng án treo. Nếu chồng bạn phạm tội trộm cắp tài sản theo các khoản khác ngoài khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự thì không được xem xét cho hưởng án treo.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chồng bạn đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại, đây được coi là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Nếu chồng bạn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thì cũng được coi là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự: “khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án”. Bạn có đề cập ba chồng bạn là người có công với cách mạng, chồng bạn là trụ cột chính của gia đình, mẹ chồng già yếu, bạn đang mang thai; các tình tiết này sẽ được Tòa án xem xét và quyết định có được coi là tình tiết giảm nhẹ hay không. Theo quan điểm của chúng tôi, các tình tiết bạn đã nêu có thể được Tòa án quyết định là tình tiết giảm nhẹ.

Do không thể xác định cụ thể khung hình phạt đối với chồng bạn nên chúng tôi không thể kết luận chồng bạn có thể được cho hưởng án treo hay không. Tuy nhiên, với hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và một số tình tiết có thể được Tòa án quyết định là tình tiết giảm nhẹ, chồng bạn sẽ được giảm nhẹ hình phạt. Điều 47 Bộ luật hình sự quy định:

“Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.37004 sec| 1017.633 kb