Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật cần lưu ý gì?

0
619
5/5 - (2 bình chọn)

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa các quy phạm pháp luật do nhà nước hoặc các cơ quan có thẩm quyền ban hành, đảm bảo thực hiện để nhằm điều chỉnh các mối quan hệ theo mục đích, định hướng chung. Việc áp dụng đúng các văn bản quy phạm pháp luật trong những trường hợp, vụ việc cụ thể để nắm rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ xã hội mà văn bản chứa quy phạm pháp luật đó điều chỉnh.

Quy định chung

Khoản 1 điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó”.

Như vậy, nguyên tắc chung nhất là hành vi xảy ra ở thời điểm nào thì áp dụng pháp luật ở thời điểm đó. Chỉ áp dụng cho hành vi xảy ra trước, còn gọi là “hồi tố”, nếu có văn bản pháp luật quy định việc hồi tố (quy định ngay trong văn bản đó hoặc văn bản khác).

Quy định khác nhau về cùng một vấn đề

Khoản 2 điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”.

Hiệu lực pháp lý của các loại văn bản quy phạm pháp luật được quy định ở điều 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Điều 4 có 15 khoản, cao nhất là Hiến pháp (khoản 1), thấp nhất là quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã (khoản 15). Các loại văn bản trong cùng một khoản của điều luật là văn bản có giá trị pháp lý ngang nhau. Ví dụ: Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội có giá trị pháp lý ngang nhau (cùng được quy định tại khoản 2 Điều 4).

Theo quy định của khoản 2 điều 156 nêu trên thì khi cùng quy định về một vấn đề mà lại quy định khác nhau và văn bản đều cùng còn hiệu lực thì áp dụng văn bản có giá trị pháp lý cao hơn.

Luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 19006198

Cùng một cơ quan ban hành mà quy định khác nhau

Khoản 3 điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của quy phạm pháp luật ban hành sau”.

Cùng một cơ quan ban hành tức là có hiệu lực pháp lý ngang nhau và đều đang có hiệu lực thi hành. Ban hành sau là có hiệu lực sau về thời gian.

Nếu cùng cơ quan ban hành là Quốc hội, quy định cùng về một vấn đề là thời hiệu mà có nội dung khác nhau nên phải áp dụng văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau là Bộ luật dân sự năm 2015 (Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực ngày 01/01/2017, Nghị quyết 103/2015/QH13 có hiệu lực ngày 25/11/2015).

Trường hợp quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn

Khoản 4 điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới”. Không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn được áp dụng hồi tố phải được hiểu là không gây bất lợi cho các chủ thể liên quan khác. Trường hợp quy định trách nhiệm nhẹ hơn đối với một chủ thể nhưng đồng thời tăng trách nhiệm cho chủ thể tương ứng thì không thể coi là thuộc trường hợp nêu trên. Ví dụ: Bộ luật Dân sự năm 1995 có quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là: “Tùy từng trường hợp, xét tính chất của giao dịch dân sự vô hiệu, tài sản giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch thu theo quy định của pháp luật” (khoản 2 Điều 146).

Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về vấn đề này là: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật” (khoản 2 Điều 137).

Quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về trường hợp bị tịch thu có nội dung chỉ tịch thu khi có quy định của pháp luật. Đây là quy định có tính giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý của người có tài sản, hoa lợi, lợi tức thuộc giao dịch vô hiệu so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995. Quy định này có lợi cho các bên tham gia vào giao dịch vô hiệu chứ không làm tăng trách nhiệm của chủ thể nào. Vì vậy, quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 được áp dụng cho cả những giao dịch vô hiệu xác lập trước khi Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực. Đó cũng là lý do hình thành hướng giải quyết của Tòa án (từ 01/01/2006) cho người đứng tên hộ trong giao dịch mua nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và người nhờ đứng tên được chia nhau khoản lợi từ việc mua nhà, chuyển nhượng đất (chênh lệch giá giữa thời điểm tranh chấp với thời điểm giao dịch) mà không bị tịch thu khoản lợi này.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực hình sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây