Bị tai nạn lao động khi chưa tham gia bảo hiểm xã hội, xử lý như thế nào?

Bởi Trần Thu Thủy - 26/06/2020
view 662
comment-forum-solid 0

Tại Việt Nam, tồn tại rất nhiều trường hợp người lao động làm việc nhưng không được ký kết hợp đồng lao động, có ký kết hợp đồng lao động nhưng không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, hết thời hạn hợp đồng lao động nhưng không được gia hạn,... dẫn đến việc khi xảy ra tai nạn lao động, người lao động bị ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích hợp pháp. Vậy, bị tai nạn lao động khi chưa tham gia bảo hiểm xã hội, người lao động cần:

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực lao động của Công ty Luật TNHH Everest

1- Đối với trường hợp người lao động có ký hợp đồng lao động nhưng không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Theo quy định tại Điều 144 Bộ luật lao động năm 2012, được hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị định số 44/2013/NĐ-CP, người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong quá trình thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động theo hợp đồng lao động với người sử dụng lao động không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc cho người lao động, người sử dụng lao động đó có trách nhiệm:

(i) Thanh toán chi phí từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động theo quy định. Cụ thể: Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

(ii) Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị;

(iii) Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau: a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%; b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định nêu trên.

(iv) Thông báo bằng văn bản cho những người sử dụng lao động của các hợp đồng lao động còn lại biết về tình trạng sức khoẻ của người lao động.

2- Đối với trường hợp người lao động đủ điều kiện đóng bảo hiểm xã hội, nhưng không được đóng theo quy định

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 145 Bộ luật lao động năm 2012: "Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội".

Những người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, thuộc các trường hợp: a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động; b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng; c) Cán bộ, công chức, viên chức; d) Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu; đ) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; e) Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí; g) Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; h) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; i) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.

3- Đối với trường hợp học nghề, tập nghề và thử việc

Người học nghề, tập nghề và thử việc không thuộc đối tượng áp dụng theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, Bộ luật lao động năm 2012 vẫn bảo vệ quyền lợi cho các đối tượng trên bằng cách quy định về việc áp dụng quy định pháp luật liên quan đến tai nạn lao động đối với trường hợp học nghề, tập nghề, thử việc. Do đó, người học nghề, tập nghề, thử việc được áp dụng các quy định đối với trường hợp người lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Cụ thể: (i) thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động; (ii) Trả đủ tiền lương theo hợp đồng trong thời gian điều trị;...

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý đăng ký nhãn hiệu của Công ty Luật TNHH Everest

4- Đối với trường hợp hết thời hạn hợp đồng lao động nhưng chưa được ký kết hợp đồng mới

Đối với trường hợp này, nếu hết thời hạn theo hợp đồng lao động, người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì có thể được xem xét là đã gia hạn hợp đồng lao động, chuyển từ hợp đồng xác định thời hạn sang không xác định thời hạn,... Khi đó, quyền và lợi ích của người lao động được đảm bảo.

Ngoài ra, tại Công văn số 4785/BLĐTBXH-LĐTL năm 2013 hướng dẫn: "Theo quy định tại khoản 2 Điều 144 Bộ luật lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, không quy định trường hợp nếu hết hạn hợp đồng lao động thì không phải trả lương trong thời gian điều trị. Vì vậy, người sử dụng lao động vẫn phải trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động trong thời gian điều trị tai nạn lao động mặc dù trong thời gian này hợp đồng lao động hết hiệu lực".

Do đó, người lao động được xem xét, hỗ trợ như trường hợp có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc người lao động thuộc đối tượng được đóng bảo hiểm xã hội nhưng không thực hiện đóng theo quy định pháp luật.

Xem thêm:

5- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Bị tai nạn lao động khi chưa tham gia bảo hiểm xã hội, xử lý như thế nào? được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Bị tai nạn lao động khi chưa tham gia bảo hiểm xã hội, xử lý như thế nào? có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư  vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.51915 sec| 1029.43 kb