Có được giảm hình phạt Toà án đã tuyên

0
347
Đánh giá

Giảm hình phạt đã tuyên là việc Tòa án quyết định cho người bị kết án đang chấp hành hình phạt được chấp hành hình phạt với mức ít hơn mức hình phạt của bản án đã tuyên, khi có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật. 

Bài viết được thực hiện bởi: Chuyên viên Nguyễn Thị Ngân – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Giảm hình phạt đã tuyên là gì?

Giảm hình phạt đã tuyên là việc Tòa án quyết định cho người bị kết án đang chấp hành hình phạt được chấp hành hình phạt với mức ít hơn mức hình phạt của bản án đã tuyên, khi có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật.

Đây là chính sách vừa thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Đảng, Nhà nước, vừa thể hiện tính nhân văn của pháp luật Việt Nam. Chính sách này là động lực khích lệ, động viên những người lầm lỡ tích cực học tập, rèn luyện, lao động, cải tạo để có điều kiện, cơ hội sớm hòa nhập cộng đồng, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Quy định pháp luật về giảm hình phạt đã tuyên

Theo quy định tại Điều 63 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về giảm mức hình phạt đã tuyên thì: “1. Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân. 2. Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên. Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm. 3. Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm. 4. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được một phần hai mức hình phạt chung. 5. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì việc xét giảm án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này. 6. Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm”.

Nội dung quy định trên, hiện nay có hai vấn đề còn chưa rõ:

Hiểu như thế nào là “bồi thường”?

Nói đến nghĩa vụ dân sự, tức bao gồm: nghĩa vụ chịu án phí, bồi thường thiệt hại cho tập thể, bồi thường thiệt hại cho công dân, khoản tiền tịch thu sung công quỹ Nhà nước,… Tại Điều 274 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)” và tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Án phí do người bị kết án hoặc Nhà nước chịu theo quy định của pháp luật. Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án. Mức án phí và căn cứ áp dụng được ghi rõ trong bản án, quyết định của Tòa án”.

Từ những quy định trên, thấy rằng: Án phí là nghĩa vụ, là trách nhiệm mà người bị kết án phải nộp, phải thực hiện cho Nhà nước. Chỉ gọi là “bồi thường” khi có thiệt hại cho cá nhân, cho tập thể, cho Nhà nước xảy ra. Việc Bộ luật hình sự quy định “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” là chưa phù hợp với lý luận và thực tiễn. Điều đó đã dẫn đến một thực tế là: khi xem xét yếu tố “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” người ta chỉ quan tâm đến vấn đề phạm nhân đã bồi thường cho tập thể, cho cá nhân được bao nhiêu và khoản tiền sung công quỹ Nhà nước đã thực hiện ở mức nào, chứ họ không quan tâm đến nghĩa vụ và trách nhiệm của người bị kết án trong việc thực hiện các khoản án phí. Như vậy là không hợp lý, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của phạm nhân. Vì vậy, để tránh trường hợp hiểu sai, hiểm nhầm, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của phạm nhân trong quá trình xem xét yếu tố “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự”. Bộ luật hình sự nên sửa đổi khoản 1 Điều 63 theo hướng: “Người bị kết… đã thực hiện được một phần nghĩa vụ dân sự,…” là dễ hiểu và hợp lý hơn.

“Một phần nghĩa vụ dân sự” được hiểu như thế nào?

Bộ luật hình sự quy định nội dung này nhưng không có bất cứ một văn bản pháp luật nào hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp người bị kết án đã bồi thường một phần nghĩa vụ dân sự là bao nhiêu. Một phần nghĩa vụ dân sự là đã thực hiện một phần hai, một phần ba hay một phần tư nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án. Do đó, trong quá trình xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân, Hội đồng xét giảm của Tòa án rất khó khăn trong việc xem xét yếu tố “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự”.

Để khắc phục, hạn chế những bất cập nói trên và để chính sách xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thực sự đảm bảo tính công bằng, dân chủ, khách quan, đảm bảo được tính nhân đạo, khoan hồng của Đảng, Nhà nước, tính nhân văn của pháp luật Việt Nam. Nên chăng, nội dung “đã bồi thường được ít nhất một phần hai nghĩa vụ dân sự” cần nhận thức lại sao cho phù hợp với thực tiễn áp dụng. Thiết nghĩ, nếu áp dụng thì chỉ áp dụng trong một giới hạn nhất định đối với các loại tội phạm kinh tế, tham ô tài sản, nhận hối lộ…

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây