Đình công theo quy định của pháp luật.

Bởi Trần Thu Thủy - 07/01/2020
view 525
comment-forum-solid 0

Đình công chỉ được tiến hành đối với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích và sau thời hạn 05 ngày, kể từ ngày Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải thành mà một trong các bên không thực hiện thỏa thuận đã đạt được.

Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

Về nguyên tắc, đình công được thừa nhận là quyền của những người lao động. Tuy nhiên, trong thực tế có những nhóm người lao động lại không được thực hiện quyền này. Việc giới hạn phạm vi quyền đình công phụ thuộc vào từng điều kiện cụ thể của mỗi nước.

Theo quy định của Bộ luật lao động 2012 các vấn đề về đình công được quy định như sau:

Thời điểm được phép đình công

Việc đình công chỉ được tiến hành đối với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích và sau thời hạn 05 ngày, kể từ ngày Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải thành mà một trong các bên không thực hiện thỏa thuận đã đạt được.

Trong trường hợp Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải không thành thì sau thời hạn 03 ngày, tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công.

Những trường hợp đình công bất hợp pháp

Khoản 2 Điều 192 Bộ luật lao động năm 2012 quy định: “Việc đình công chỉ được tiến hành đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích”. Có 5 trường hợp đình công bị coi là bất hợp pháp

Một là, không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích.

Hai là, tổ chức cho những người lao động không cùng làm việc cho một người sử dụng lao động đình công.

Ba là, khi vụ việc tranh chấp lao động tập thể chưa được hoặc đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết theo quy định của Bộ luật này.

Bốn là, tiến hành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định.

Năm là, đình công khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công.

Tổ chức và lãnh đạo đình công.

Điều 210 Bộ luật lao động năm 2012 quy định: ở những nơi có tổ chức công đoàn cơ sở, đình công phải do ban chấp hành công đoàn cơ sở tổ chức lãnh đạo; ở những nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công do tổ chức công đoàn cấp trên tổ chức lãnh đạo theo đề nghị của người lao động.

Quy định này đảm bảo thống nhất với luật công đoàn trong việc xác định công đoàn là tổ chức duy nhất đại diện cho tập thể lao động. Nếu như đối với ban chấp hành công đoàn cơ sở, các thành viên của ban chấp hành công đoàn đều là người lao động trong doanh nghiệp nên nhiều khi vì vấn đề việc làm, vì quyền lợi đã không dám đấu tranh cũng như tổ chức đình công chống lại người sử dụng lao động. Còn tổ chức công đoàn cấp trên hoàn toàn không bị phụ thuộc vào người sử dụng lao động nên sẽ kiên quyết hơn trong việc tổ chức lãnh đạo tập thể lao động tiến hành đình công.

Quyền của các bên trước và trong quá trình đình công

Về quyền của người lao động: Trong quá trình đình công, người lao động tiếp tục thỏa thuận để giải quyết nội dung tranh chấp lao động tập thể hoặc cùng đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về lao động, tổ chức công đoàn và tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở cấp tỉnh tiến hành hoà giải.

Người lao động không tham gia đình công nhưng phải ngừng việc vì lý do đình công thì được trả lương ngừng việc theo quy định tại khoản 2 Điều 98 của Bộ luật lao động năm 2012 quy định: “Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định”.

Đối với người lao động trực tiếp tham gia đình công sẽ không được trả lương và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp hai bên có thoả thuận khác.

Đối với ban chấp hành công đoàn: Ban chấp hành công đoàn có quyền rút quyết định đình công nếu chưa đình công hoặc chấm dứt đình công nếu đang đình công, yêu cầu Tòa án tuyên bố cuộc đình công là hợp pháp.

Quyền của người sử dụng lao động: Khi diễn ra đình công, người sử dụng lao động có quyền chấp nhận toàn bộ hoặc một phần yêu cầu và thông báo bằng văn bản cho Ban chấp hành công đoàn tổ chức, lãnh đạo đình công.

Người sử dụng lao động cũng có quyền đóng cửa tạm thời nơi làm việc trong thời gian đình công do không đủ điều kiện để duy trì hoạt động bình thường hoặc để bảo vệ tài sản.

Ngoài ra, người sử dụng lao động có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố cuộc đình công là bất hợp pháp

Xử lý cuộc đình công vi phạm trình tự, thủ tục.

Việc xử lý cuộc đình công vi phạm trình tự, thủ tục quy định tại Điều 212 và 213 của Bộ luât lao động bao gồm hai bước sau:

Thứ nhất, chủ tịch UBND cấp tỉnh ra quyết định tuyên bố cuộc đình công vi phạm trình tự, thủ tục và thông báo ngay cho Chủ tịch UBND huyện khi việc tổ chức và lãnh đạo đình công vi phạm trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được thông báo của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND huyện chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về lao động, công đoàn cùng cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp gặp gỡ người sử dụng lao động và Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên để nghe ý kiến và hỗ trợ các bên tìm biện pháp giải quyết, đưa hoạt động sản xuất kinh doanh trở lại bình thường.

Về việc hoãn hoặc ngừng đình công, đóng cửa tạm thời nơi làm việc

Thẩm quyền việc hoãn hoặc ngừng đình công thuộc Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh là người nắm rõ tình hình địa phương nên việc nắm bắt thông tin để quyết định hoãn hay ngừng cuộc đình công sẽ nhanh chóng, phù hợp và chính xác hơn.

Bộ luật lao động năm 2012 cho phép người sử dụng lao động được quyền đóng cửa tạm thời doanh nghiệp trước và trong quá trình đình công đã giải quyết được những yêu cầu đặt ra trong thực tiễn. Bởi vì khi cuộc đình công diễn ra thì doanh nghiệp khó mà duy trì được hoạt động bình thường do một số đông người lao động sẽ ngừng việc. Bên cạnh đó thực tế các cuộc đình công cho thấy khi mấu thuẫn đã không thể dung hòa người lao động sẽ có những hành động có thể gây tổn hại đến tài sản của doanh nghiệp.

Tại Điều 216 quy định, người sử dụng lao động phải thông báo cho các cơ quan, tổ chức biết về việc đóng cửa tạm thời doanh nghiệp ít nhất 3 ngày làm việc trước ngày đóng cửa tạm thời nơi làm việc. Việc yêu cầu thông báo trước nhằm đảm bảo lợi ích của người lao động và để các cơ quan có thẩm quyền xem xét việc đóng cửa doanh nghiệp vào thời điểm đó có hợp lý hay không.

Có hai thời điểm người sử dụng lao động không được đóng cửa tạm thời nơi làm việc đó là trước 12 giờ so với thời điểm bắt đầu đình công ghi trong quyết định đình công và sau khi tập thể lao động ngừng việc đình công.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật lao động được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.20464 sec| 1021.359 kb