Doanh nghiệp tư nhân là gì?

Bởi Trần Thu Thủy - 03/01/2020
view 606
comment-forum-solid 0
Để cung cấp thêm thông tin cho các nhà đầu tư, các doanh nhân dễ dàng hơn trong việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp khi quyết định đăng ký thành lập. Chúng tôi xin chia sẻ bài viết tìm hiểu về doanh nghiệp tư nhân với các khái niệm và đặc điểm như sau.

Doanh nghiệp tư nhân là gì?

Trước năm 1986, kinh tế tư nhân nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng không được thừa nhận trong đời sống kinh tế, pháp lý ở Việt Nam: “Hàng loạt chính sách lớn đã được đề ra và được thực hiện như quốc hữu hóa, cải tạo công thương nghiệp, họp tác hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Mục đích của các chính sách đó là đế xây dựng cho được nền kinh tể xã hội chủ nghĩa chỉ với hai thành phần là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, xóa bỏ kinh tế tư nhân'’'.

Luật Doanh nghiệp năm 2014 không định nghĩa về doanh nghiệp tư nhân mà chỉ quy định về các dấu hiệu nhận diện doanh nghiệp tư nhân tại Điều 183 như sau:

“Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cả nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoản nào.

Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh.

Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cô phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách, nhiệm hữu hạn hoặc công ty cố phần”.

Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân

Bên cạnh những đặc điếm chung của một doanh nghiệp kinh doanh thì doanh nghiệp tư nhân còn có những đặc điểm riêng sau:

Thứ nhất: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cả nhân làm chủ sở hữu

Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân làm chủ sở hữu. Cá nhân chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân có thể là cá nhân Việt Nam hoặc cá nhân nước ngoài trừ những cá nhân không được thành lập, quản lý doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Hạn chế quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân của một số cá nhân tại khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014 nhàm đảm bảo sự chuyên tâm trong công việc Nhà nước giao phó hoặc ngăn ngừa sự trục lợi đối với một số vị trí quản lý trong các cơ quan nhà nước hoặc gìn giữ văn hóa, đạo đức kinh doanh hoặc hạn chế nguy cơ rủi ro cho nền kinh tế - xã hội khi nhà đầu tư không có khả năng quản lý doanh nghiệp...

Đặc điểm doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân làm chủ sở hữu sẽ phân biệt doanh nghiệp tư nhân với những loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhiều chủ như công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên. Đặc điểm đó cũng phân biệt doanh nghiệp tư nhân với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Cùng thuộc sở hữu của một chủ nhưng chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ do một cá nhân làm chủ sở hữu còn công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu.

Với tính chất là doanh nghiệp thuộc sở hữu của một chủ nên toàn bộ vốn để thành lập và tạo lập cơ sở vật chất cho doanh nghiệp tư nhân hoạt động kinh doanh chỉ do một cá nhân đầu tư. Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp, vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Như vậy, khác với các loại hình công ty là những tổ chức kinh tế có tài sản riêng thì doanh nghiệp tư nhân không có tài sản riêng mà tài sản của doanh nghiệp tư nhân vẫn là tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp tư nhân.

Thứ hai: Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân

Theo Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: (i) Được thành lập hợp pháp theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; (ii) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; (iii) Có tài sản dộc lập với cá nhân, tố chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (iv) Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Như phân tích tại đặc điểm thứ nhất khi nhận diện doanh nghiệp tư nhân thì doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân đầu tư vốn và làm chủ. Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân không có tài sản độc lập. Do vậy, doanh nghiệp tư nhân không đủ điều kiện để được công nhận là pháp nhân.

Thứ ba: Chủ doanh nghiệp tư nhãn chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trách nhiệm tài sản trong kinh doanh thường được đặt ra đổi với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp. Trách nhiệm tài sản trong kinh doanh của doanh nghiệp đá chỉ về khả năng chịu trách nhiệm tài sản giữa doanh nghiệp với các khách hàng, chủ nợ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm tài sản bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân, không có tài sản riêng nên trách nhiệm tài sản đối với đối tác, khách hàng, chủ nợ, những người có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm. Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm tài sản vô hạn trong kinh doanh có nghĩa là chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của mình bao gồm cả tài sản chủ doanh nghiệp tư nhân đã đầu tư vào doanh nghiệp và tài sản mà chủ doanh nghiệp tư nhân không đầu tư vào doanh nghiệp.

Như vậy, trách nhiệm vô hạn trong kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân là một loại trách nhiệm tài sản không chỉ giới hạn trong phạm vi số vốn chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp. Trách nhiệm tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân được xác định từ thời điểm doanh nghiệp tư nhân được cẩp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và thời điểm bị áp dụng trách nhiệm vô hạn là thời điểm doanh nghiệp tư nhân bị tuyên bổ phá sản.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật sư Nguyễn Hoài Thương – Công ty Luật TNHH Everest- Tổng đài tư vấn (24/7):1900 6198

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

 

 

 

 

 

 

 

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.19132 sec| 1008.719 kb