Khái niệm vể hợp đổng trong thương mại

Bởi Trần Thu Thủy - 03/01/2020
view 542
comment-forum-solid 0
Bản chất của hợp đồng nói chung là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể trong xã hội, thông qua đó xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý. Hợp đồng là căn cứ pháp lý phổ biến làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự. Trong điều kiện kinh tế thị trường, quan hệ kinh tế chủ yếu được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng. Nói cách khác, giao kết và thực hiện các hợp đồng là cách thức cơ bản để thực hiện hiệu quả các hoạt động kính tế.

Khoa học pháp lý cũng như pháp luật thực định ở Việt Nam từ trước lới nay đã sử dụng nhiều khái niệm pháp lý để chỉ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại như: hợp đồng kinh doanh hợp đổng kinh tế [1], hợp đổng thương mại,... Pháp luật hiện hành không đưa ra định nghĩa pháp lý về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại mà chỉ quy định khái niệm chung vể hợp dồng dân sự. Theo Điều 388, Bộ luật Dân sự năm 2005, hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giũa các bên vể việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Với phạm vi áp dụng của Bộ luật Dân sự năm 2005 (khoản 1, Điều 1), các quy định về hợp đồng dân sự được áp dụng cho hợp đồng nói chung (trong các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động). Quyền và nghĩa vụ dân sự theo hợp đồng dân sự được hiểu bao gồm cả những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ kinh doanh, thương mại. Khái niệm hợp đồng dân sự trong Bộ luật Dân sự được xem là khái niệm chung về hợp đồng (hình thức pháp lý của các quan hệ tài sản), bao gồm các hợp đồng trong lĩnh vực thương mạị.

Về mặt lý  luận, hợp dồng trong lĩnh vực thương mại là một loại hợp đồngdân sự (một dạng cụ thể của hợp đổng dân sự). Tuy nhiên, hợp đồng trong thương mại có những đặc điểm riêng nhất định, khác với những hợp đồng dân sự thông thường theo cách hiểu truyền thống. Có thể xem xét hợp đổng thương mại trong mối liên hệ với hợp đồng đân sự theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Từ cách tiếp cận này, có thể thấy những vấn đề cơ bản về hợp đồng trong thương mại không có sự khác biệt so với các hợp đổng dân sự thông thường như: giao kết hợp đồng, nguyên tắc và các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đổng, hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu... Bên cạnh đó, xuất phát từ đặc điếm và yêu cầu của hoạt động thương mại, một số vân để về hợp đồng thương mại trong các lĩnh vực thương mại cụ thể, có tính chất là tiếp tục phát triển những quy định của dân luật truyền thông về hợp đồng (như chủ thể hợp đồng, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên, chế tài và giải quyết tranh chấp hợp đồng...)- Theo quy định hiện hành, có thể nhận diện hợp đồng trong thương mại theo một số tiêu chí pháp lý chủ yếu sau:

Thứ nhất, về chủ thể: hợp đồng thương mại được thiết lập chủ yếu giữa các thương nhân. Theo quy định của Luật Thương mại (2005), thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động kinh doanh một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh [2]. Có những quan hệ hợp đồng trong thương mại đòi hỏi các bên đều phải là thương nhân (Hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại...); bên cạnh đó có những hợp đồng thương mại chí đòi hỏi ít nhất một bên là thương nhân (hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hóa, hợp đồng môi giới thương mại, hợp đồng dịch vụ xây dựng, hợp đồng bảo hiểm...).

Thứ hai, về hình thức: hợp đồng trong thương mại có thể được thiết lập theo cách thức mà hai bên thể hiện sự thỏa thuận với nhau. Hợp đồng thương mại có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thế của các bên giao kết. Trong những trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp đồng bằng hình thức văn bản như: hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, hợp đồng dịch vụ khuyến mại, hợp đồng quảng cáo, hôi chợ, triển lãm thương mại, hợp đồng tín dụng. LuậtThương mại năm 2005 cho phép các bên trong hợp đồng có thể thay thế hình thức văn bản bằng các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Các hình thức có giá trị pháp lý tương đương với hình thức vãn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu

Thứ ba, mục đích phổ biến của các bên trong hợp đồng thương mại là lợi nhuận. Khi tham gia hợp đồng thương mại, thông thường các bên của hợp đồng đều nhằm thu được lợi nhuận từ việc thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, một bên của hợp đồng thương mại không có mục đích lợi nhuận. Những hợp đồng này, về nguyên lắc không đương nhiên chịu sự điều chỉnh bởi những quy định riêng của pháp luật kinh doanh. Theo Luật Thương mại năm 2005, những hợp đồng được ký kết giữa một bên là thương nhân với một bên là chủ thổ không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận thì việc có áp dụng Luật Thương mại để điều chỉnh quan hệ trong hợp đồng đó hay không là do bên không có mục đích lợi nhuận trong hợp đồng đó quyết định

 

 

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.16129 sec| 993.484 kb