Thỏa thuận trong hợp đồng phải bồi thường nếu chấm dứt hợp đồng có đúng?

Bởi Trần Thu Thủy - 09/01/2020
view 469
comment-forum-solid 0
Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Hỏi: Tôi có ký hợp đồng với một công ty làm việc lâu dài lương theo thoả thuận và kèm theo cam kết hợp đồng là nếu phá hợp đồng sẽ phải đền bù là 300 triệu. Nhưng cách đây hơn 1 năm tôi đã đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng qui định của luật lao động tuy nhiên tôi chưa lấy tiền đền bù và các văn bằng, bảo hiểm xã hội của tôi đang bị công ty giữ. Đề nghị Luật sư tư vấn, trong trường hợp này tôi nên làm gì? 

Về nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận như sau: "Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào. Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng". (Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015)

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì cam kết đền bù hợp đồng khi chấm dứt hợp đồng lao động không bị pháp luật cấm. Như vậy, nếu giữa anh (chị) và người sử dụng lao động tự nguyện, thỏa thuận với nhau về việc đền bù hợp đồng thì anh (chị) phải thực hiện theo như cam kết. Về việc anh (chị) chưa có tiền đền bù, anh (chị) có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động.

Về những hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động quy định như sau: "1. Ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động, dùng vũ lực đối với lao động là người giúp việc gia đình. 2. Giao việc cho người giúp việc gia đình không theo hợp đồng lao động. 3. Giữ giấy tờ tùy thân của người lao động". (Điều 183 Bộ luật Lao động năm 2012)

Về các hành vi vi phạm pháp luật về thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội: "1. Cố tình gây khó khăn hoặc cản trở việc hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động. 2. Không cấp sổ bảo hiểm xã hội hoặc không trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định của Luật này". (Điều 135 Luật bảo hiểm)

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì người sửdụng lao động không được giữ giấy tờ, bảo hiểm xã hội của anh (chị).

Khoản 2 điều 47 Bộ luật Lao động năm 2012 cũng quy định: "2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày".

Theo thông tin mà anh (chị) đã cung cấp thì anh (chị) nghỉ việc hơn một năm rồi mà công ty vẫn chưa trả giấy tờ lại cho anh (chị), trong trường hợp này anh (chị) có thể tới phòng Lao động thương binh và xã hội hoặc khởi kiện ra Tòa nơi công ty anh (chị) đặt trụ sở để được giải quyết.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật lao động được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

 

 

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.17268 sec| 990.313 kb