Thực hiện công việc không có ủy quyền, hiểu thế nào cho đúng

0
154
Đánh giá

Thực hiện công việc không có ủy quyền là gì? Bài viết dưới đây sẽ chia sẻ đến các bạn về việc thực hiện công việc không có ủy quyền giúp mọi người hiểu thêm về vấn đề

Thực hiện công việc không có ủy quyền, hiểu thế nào cho đúng
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật dân sự, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Thực hiện công việc không có ủy quyền là gì?

Theo Điều 574 Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định:

“Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng vẫn tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.

Như vậy, ta có thể hiểu, theo quy định của pháp luật thì thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người tự ý thực hiện công việc của người khác, vì lợi ích của người khác mà không dựa trên cơ sở hợp đồng thực hiện công việc đó.

Ví dụ về thực hiện công việc không có ủy quyền:

Ông A ở một mình tranh thủ thời gian các cháu đang trong kì nghỉ hè đã đến nhà con gái chơi và ở lại 1 tháng. Trong thời gian đó thì có bão về, chính quyền địa phương đã ban hành thông báo mọi người nhanh chóng thực hiện các biện pháp phòng chống bão. Ông B là hàng xóm nhà ông A để ý cây nhãn nhà ông A tán rộng chum qua đường dây điện của cả xóm.

Ông B sợ bão to nếu cành nhãn gãy có thể làm đứt dây điện gây nguy hiểm nên ông B đã gọi điện cho ông A để nói về vấn đề trên. Tuy nhiên gọi vào số ông A lại thuê bao, ông B đành phải chặt hộ cành nhãn ở nhà ông A để tránh nguy cơ cành nhãn gãy làm đứt dây điện.

Xem thêm quy định về hợp đồng ủy quyền tại bài viết: Mẫu hợp đồng ủy quyền chính xác nhất theo quy định pháp luật

Điều kiện để xác định công việc không có ủy quyền

Một công việc được xác định là công việc không có uỷ quyền phải đầy đủ các yếu tố sau:

(i) Thứ nhất, người thực hiện công việc không có ủy quyền là người hoàn toàn không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc đó nhưng đã thực hiện công việc đó. Nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ pháp lý do luật định hoặc do các bên thỏa thuận với nhau.

(ii) Thứ hai, việc thực hiện công việc đó phải hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc, nếu người thực hiện công việc vì lợi ích của mình hoặc của người khác thì chế định này sẽ không được áp dụng.

Người có công việc được thực hiện nếu không biết hoặc biết mà không có ý kiến phản đối việc thực hiện đó. Nếu trường hợp người có công việc phản đối mà bên kia vẫn tiếp tục thực hiện thì không thuộc chế độ này. Tuy nhiên, ý nguyện của người thực hiện công việc không được trái pháp luật và trái đạo đức xã hội. Ví dụ: ngăn cản người khác tự tử được coi là công việc không có ủy quyền mặc dù việc thực hiện đó bị người tự tử phản đối.

Nghĩa vụ của người thực hiện công việc không có ủy quyền

Điều 575 đã quy định về Nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền

(i) Người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp dựa theo khả năng, điều kiện của mình.

(ii) Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc như công việc của chính mình; nếu biết hoặc đoán biết được ý định của người có công việc thì phải thực hiện công việc phù hợp với ý định đó.

(iii) Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình, kết quả của công việc nếu có yêu cầu, trừ trường hợp người có công việc đã biết hoặc người thực hiện công việc không có ủy quyền không biết nơi cư trú hoặc trụ sở của người đó.

(iv) Trường hợp người có công việc được thực hiện chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận.

(v) Trường hợp có lý do chính đáng mà người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục đảm nhận công việc thì phải tiến hành báo cho người có công việc được thực hiện, người đại diện hoặc người thân thích của người này hoặc có thể nhờ người khác thay mình đảm nhận việc thực hiện công việc.

Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại

Theo quy định hiện hành tại Bộ luật dân sự năm 2015 thì nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi thực hiện công việc không có ủy quyền được quy định như sau:

(i) Khi người thực hiện công việc không có ủy quyền cố ý gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì phải iến hành tbồi thường thiệt hại cho người có công việc được thực hiện.

(ii) Nếu người thực hiện công việc không có ủy quyền do vô ý mà gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì căn cứ vào hoàn cảnh đảm nhận công việc, người đó có thể được giảm mức bồi thường thiệt hại.

Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi thực hiện công việc không có ủy quyền được quy định tại Điều 577 Bộ luật dân sự năm 2015.

Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện

Theo quy định hiện hành tại Bộ luật dân sự năm 2015 thì nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện được quy định như sau:

Người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc và thanh toán các chi phí hợp lý mà người thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc, kể cả trường hợp công việc có đạt được kết quả theo ý muốn của mình hay không.

Người có công việc được thực hiện phải thanh toán cho người thực hiện công việc không có ủy quyền một khoản thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền từ chối.

Chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền

Việc thực hiện công việc không có ủy quyền sẽ chấm dứt trong trường hợp sau đây:

(i) Theo yêu cầu của người có công việc được thực hiện.

(ii) Người có công việc được thực hiện, người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện tiếp nhận công việc.

(iii) Người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục hoàn thành công việc theo quy định

“Trường hợp có lý do chính đáng mà người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục đảm nhận công việc thì phải tiến hành báo cho người có công việc được thực hiện, người đại diện hoặc người thân thích của người này hoặc có thể nhờ người khác thay mình tiếp tục đảm nhận việc thực hiện công việc.”

(iv) Người thực hiện công việc không có ủy quyền chết, nếu là cá nhân hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân.

Xem thêm thông tin tại Pháp trị

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn