Bảo lãnh là gì? Các quy định pháp luật về bảo lãnh

0
77
Đánh giá

Việc người thứ ba cam kết với chủ nợ về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho con nợ nếu chủ nợ không thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn. Bài viết phân tích các quy định mới nhất của luật bảo hành cụ thể:

Các quy định pháp luật về bảo lãnh
Các quy định pháp luật về bảo lãnh

Bảo lãnh là gì?

Thông thường con nợ trong quan hệ nghĩa vụ là người bảo đảm biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên có nhiều trường hợp con nợ không có khả năng đảm bảo như vậy trước chủ nợ. Tạo điều kiện để các bên giao kết hợp đồng xác lập quan hệ nghĩa vụ bảo đảm quyền lợi của chủ nợ kể cả trường hợp chủ nợ không có tài sản bảo đảm thực hiện hợp đồng. với điều kiện người khác có thể tự ràng buộc mình trước chủ nợ nhân danh con nợ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.

BLDS năm 2015 quy định:

“Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảolãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảolãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảolãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.

Quy định pháp luật chung về bảo lãnh

Các bên cũng có thể thoả thuận rằng bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên cho vay không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

Việc bảo đảm phải được lập thành văn bản có thể được lập thành văn bản riêng hoặc được đưa vào hợp đồng chính. Trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản bảo lãnh phải được công chứng chứng thực.

Người bảolãnh có thể cam kết bảo đảm toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ của Người ảo lãnh.
Khi nhiều người cùng bảo đảm nghĩa vụ thì họ phải cùng nhau thực hiện việc bảolãnh trừ trường hợp có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về việc bảoãnh của các bên độc lập; chủ nợ có thể yêu cầu bất kỳ liên danh và một số người bảolãnh nào thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

Khi một trong các liên danh và một số người bảolãnh đã thay mặt người bảo lãnh thực hiện toàn bộ nghĩa vụ anh ta có quyền yêu cầu những người bảolãnh còn lại thực hiện một phần nghĩa vụ của họ đối với anh ta.

Bảo lãnh chấm dứt trong các trường hợp: nghĩa vụ được bảolãnh chấm dứt; bảo hành bị vô hiệu hoặc được thay thế bằng một iện pháp an ninh khác; bên bảolãnh đã thực hiện nghĩa vụ ảo hành mà các bên đã thoả thuận.

Xem thêm: Quyền nuôi con khi không đăng ký kết hôn

Chủ thể của hoạt động bảo lãnh

Theo khái niệm về bảo hành trên khi một iện pháp bảo lãnh được hỏi sẽ có nhiều mối quan hệ giữa các môn học và có một mối quan hệ nhất định giữa các mối quan hệ này (ví dụ: a c).

Liên quan đến quan hệ: Mối quan hệ giữa A và B là mối quan hệ nghĩa vụ được đảm bảo bởi các iện pháp bảolãnh (arcription giữa A và B hoặc theo quy định của pháp luật) quan hệ giữa A với C là một mối quan hệ bảo hành (hình thành thỏa thuận giữa A và C) mối quan hệ giữa C và B chỉ xảy ra khi CA thay đổi B để thực hiện các nghĩa vụ B trước một (được gọi là ý nghĩa trả nợ).

Về chủ : Đối tượng của mối quan hệ bảo đảm là A và C trong đó C là sự đảm bảo người nhận bảolãnh; Chủ đề trong mối quan hệ nghĩa vụ là A và B nơi A là phần bên phải B là nghĩa vụ; Đối tượng trong nghĩa vụ hoàn trả là C và B trong việc án phá c là bên phải B là phần bắt buộc.

về mối quan hệ giữa các mối quan hệ: Mối quan hệ giữa A và B là mối quan hệ có trách nhiệm được đảm bảo bởi sự bảo đảm (do đó B cũng được gọi là phần được bảo đảm); Mối quan hệ giữa A và C là một mối quan hệ đảm bảo hiệu suất của B; Hệ thống giữa C và B là mối quan hệ trong đó B phải hoàn trả những lợi thế mà C đã thay đổi B cho a.

Của quyết định cho thấy rằng khi một bảo hành được xác định ngoài các đối tượng của mối quan hệ bảo hành là người bảo lãnh (C) và bảo hành (a) có một chủ đề liên quan như một phần được đảm bảo (B).

Chủ nợ luôn là con nợ trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp bảo đảm này. Họ có thể nhận thức được hoặc không biết về việc thiết lập quan hệ ràng buộc để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhưng họ phải hoàn trả cho bên bảolãnh những dịch vụ mà bên đó đã thay mặt họ thực hiện.

Đối tượng và phạm vi bảo lãnh

Các quy định pháp luật về bảo lãnh
Các quy định pháp luật về bảo lãnh

Đối tượng của bảo lãnh là cam kết của bên bảolãnhđối với bên bảo lãnh. Tuy nhiên để thực hiện nghĩa vụ này bên bảo-lãnh phải có tài sản hoặc sức lao động phù hợp để hoàn trả quyền lợi cho bênbảolãnhtrong trường hợp bên bảolãnh không thực hiện nghĩa vụ.

Như chúng ta đã biết lợi ích mà các bên có nghĩa vụ tìm kiếm trong quan hệ bắt buộc là lợi ích vật chất. Chỉ thông qua lợi ích vật chất lợi ích vật chất mới có được. Vì vậy bên bảo- lãnh phải bằng tài sản hoặc thay mặt bên bảo lãnh thực hiện công việc để đảm bảo quyền lợi cho ên ảo lãnh.

Nếu đối tượng của nghĩa vụ là việc thực hiện một hành vi mà việc thực hiện chỉ cho phép lợi ích của bên có quyền được thoả mãn thì bên có quyền phải thực hiện một hành vi. Trong trường hợp này người ảo lãnh phải là người có khả năng thực hiện công việc.

Nếu đối tượng chính của nghĩa vụ là một khoản tiền hoặc tài sản có giá trị thì bên bảo- lãnh phải nhận tài sản đó và giao cho bên bảo lãnh xử lý.

Phạm vi bảo hành có thể là một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ. Trừ trường hợp có thoả thuận khác bên bảo lãnh phải bảo đảm quyền lợi của bên được bảo -lãnh; đồng thời phải bảo đảm cả tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại. Như vậy phạm vi bảo- lãnh bao gồm nhiều phần so với tổng giá trị các nghĩa vụ chính phụ thuộc vào cam kết và quyết tâm của người bảo lãnh.

Tham khảo thêm bài viết về bảo lãnh ngân hàng

Khi nào phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ nếu tại thời điểm đó bên bảo lãnh không thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên bảo -lãnh. Bên bảo lãnh không bị ràng uộc phải thực hiện nghĩa vụ ảo lãnh trong trường hợp bên bảo -lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với bên bảo- lãnh.

Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ ảo lãnh thì thời điểm mà người ảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ này phải được xác định trong từng trường hợp cụ thể.
Pháp luật hiện hành quy định rằng bên bảo lãnh “phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có chủ nợ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ ”(Điều 335 BLDS 2015). Theo quy định trên thời điểm mà bên bảo -lãnh phải thực hiện nghĩa vụ được xác định trong hai trường hợp sau:

Thứ nhất khi nghĩa vụ đảm bảo bởi bảo lãnh đáo hạn. Việc xác định việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh bắt đầu từ thời điểm này nếu các bên trong quan hệ bảo lãnh không có thoả thuận khác về thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Như vậy trong trường hợp này chủ nợ có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ kể từ thời điểm chủ nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đến hạn.

Thứ hai khi bên có quyền không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

Nếu các bên trong quan hệ ảo lãnh đã thoả thuận rằng người được bảo lãnh chỉ thực hiện nghĩa vụ khi chủ nợ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ kể cả khi nghĩa vụ đã đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ nếu việc bảo lãnh không được thực hiện thì chủ nợ vẫn không có quyền yêu cầu chủ nợ thực hiện nghĩa vụ này khi không có đủ căn cứ xác định chủ nợ không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ. Như vậy thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo hành trong trường hợp này được xác định kể từ thời điểm có đủ căn cứ xác định chủ nợ không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ.

Xem thêm: Giành quyền nuôi con khi vợ ngoại tình

Nội dung của bảo lãnh là gì?

Bên bảo lãnh sử dụng tài sản của mình hoặc tự mình thực hiện các công việc để thay mặt ên bảo lãnh chịu trách nhiệm nếu người đó không thực hiện nghĩa vụ hoặc gây thiệt hại cho ên bảo lãnh. Khi ên bảo lãnh thực hiện các cam kết trước bên bảo lãnh thì quan hệ nghĩa vụ chính cũng như bảo lãnh coi như chấm dứt. Khi đó bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên có quyền thực hiện nghĩa vụ theo bảo lãnh; người bảo lãnh được hưởng thù lao nếu giữa họ và người bảo lãnh có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Trong trường hợp có nhiều người cùng ảo lãnh một nghĩa vụ mà giữa người bảo lãnh và người bảo lãnh không có thỏa thuận nào khác thì nghĩa vụ của những người đồng bảo lãnh đối với người bảo lãnh được xác định theo nghĩa vụ kèm theo và họ phải cùng nhau thực hiện bảo hành. Do đó bên bảo lãnh có thể yêu cầu một trong những người đồng bảo lãnh thực hiện toàn bộ nghĩa vụ khi đến hạn mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng. Khi một trong các liên danh và một số người bảo lãnh đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thay mặt cho người bảo lãnh anh ta có quyền yêu cầu những người bảo lãnh còn lại thực hiện cho mình phần nghĩa vụ trong chừng mực họ đã bảo lãnh.

Về nguyên tắc chung khi ên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được chuyển giao cho bên bảo lãnh do đó nếu bên bảo lãnh miễn thực hiện nghĩa vụ thì bên bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ này đối với người phụ trách. pháp luật. Trừ trường hợp các bên có thoả thuận mà bên nhận bảo đảm vẫn phải thực hiện nghĩa vụ (khoản 1 Điều 341).

Trong trường hợp chủ nợ miễn thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh thì bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ đối với chủ nợ trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác thì phải liên đới thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh (Điều 341 BLDS);

Biện pháp bảo lãnh chấm dứt theo những lý do quy định tại Điều 343 Bộ luật dân sự năm 2015. Nếu bạn đang quan tâm đến các vấn đề pháp lý khác, tham khảo thêm bài viết trên trang: pháp trị

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.