Căn cứ để xác định loại đất như thế nào?

Bởi Trần Thu Thủy - 06/08/2020
view 376
comment-forum-solid 0
Chú tôi có thửa đất tại thị trấn Krông Năng, được UBND huyện cấp GCNQSDĐ năm 1992, trong đó có ghi: diện tích: 4.600m2; mục đích sử dụng: Khu dân cư với thời hạn sử dụng lâu dài. Trên đó đã có nhà ở và cả gia đình đang sinh sống tại đây. Hiện chú tôi muốn chuyển thêm 200m2 đất ở trong thửa đất này (ngoài 400m2 đất ở được công nhận).

Đề nghị đã được UBND huyện cho phép, tuy nhiên khi áp thuế, cơ quan thuế không tính giảm thuế (theo Nghị định 45/2014/NĐ-CP được giảm 50% tiền thuế) với lý do là chuyển từ đất trồng cây lâu năm, không phải từ đất vườn.

Trong quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng của UBND huyện ghi: Được chuyển mục đích sử dụng từ 200m2 từ đất trồng cây lâu năm trong khu dân cư sang đất ở đô thị. Cơ quan thuế yêu cầu phải đổi quyết định và ghi rõ là chuyển từ đất vườn.

Tôi đã hỏi Phòng Tài nguyên và Môi trường và được giải thích là theo quy hoạch chung của huyện, ngoài đất ở là đất trồng cây lâu năm, nên không thể ghi là đất vườn. Văn phòng Đăng ký đất đai thì xác nhận đây là đất vườn.

Xin hỏi, đất của chú tôi có được xem là đất vườn hay không? Cơ quan nào có trách nhiệm xác định loại đất trên? Nội dung ghi trong quyết định của UBND huyện với yêu cầu của cơ quan thuế thì cơ quan nào đúng?

Căn cứ để xác định loại đất như thế nào? Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900.6198

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 11 của Luật Đất đai thì căn cứ xác định loại đất đối với trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.

Việc xác định loại đất trên Giấy chứng nhận đã cấp được căn cứ vào thời điểm cấp Giấy chứng nhận và quy định về việc xác định loại đất tại thời điểm đó.

Do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người chú của ông Thể được cấp năm 1992 nên việc cấp Giấy chứng nhận được thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai năm 1987. Theo đó, đất khu dân cư gồm đất ở, đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất lâm nghiệp trong khu dân cư, đất chuyên dùng trong khu dân cư.

Tại Khoản 6, Điều 103 của Luật đất đai năm 2013 quy định “Phần diện tích đất vườn, ao còn lại sau khi đã xác định diện tích đất ở theo quy định tại các Khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này thì được xác định sử dụng vào mục đích hiện trạng đang sử dụng theo quy định tại Khoản 1, Điều 10 của Luật này”.

Theo đó, đất vườn ao trong cùng thửa đất có nhà ở đã được cấp Giấy chứng nhận được xác định theo loại đất hiện trạng đang sử dụng là đất nông nghiệp, bao gồm cả đất trồng cây lâu năm, đất trồng cây hàng năm (đất trồng cây lâu năm trong cùng thửa đất có nhà ở là đất vườn).

Xem thêm:

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.23861 sec| 992.164 kb