Chậm chi trả tiền bồi thường khi thu hồi đất, người dân được yêu cầu tính lãi

0
2541
5/5 - (10 bình chọn)

Thực tế, quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành, đồng thời người dân đã thực hiện việc bàn giao mặt bằng, cũng như thực hiện các công tác kê khai tài sản, thông tin thửa đất, thông tin người sử dụng,… nhưng vẫn bị chậm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

Theo quy định của Luật đất đai, Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn liên quan, người có đất bị thu hồi được yêu cầu thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả – tức là được yêu cầu tính lãi trên số tiền bồi thường chậm trả.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật sư Nguyễn Thị Yến – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Căn cứ pháp lý

  • Luật Đất đai năm 2013;
  • Luật Quản lý thuế năm 2019;
  • Nghị định số 47/2017/NĐ-CP ngày 24/04/2017 của Chính Phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang;
  • Thông tư 135/2018/TT-BTC ngày 28/12/2018 của Bộ Tài chính quy định việc quản lý đối với tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý tạm gửi, tạm giữ do Kho bạc Nhà nước nhận bảo quản.

Quy định về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Cá nhân, hộ gia đình có thể được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Tùy thuộc vào quỹ đất, quy hoạch đất, tình hình thực tế tại địa phương mà mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 93 Luật đất đai năm 2013: “Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi“.

Như vậy, cần phân biệt ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có hiệu lực thi hành và ngày cá nhân, hộ gia đình có đất bị thu hồi nhận được quyết định thu hồi đất là hai ngày khác nhau. Do đó, khi nhận được quyết định thu hồi đất, hộ gia đình, cá nhân cần xem xét kỹ điều khoản có hiệu lực của quyết định nêu trên.

Chậm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tính lãi suất như thế nào?

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 93 Luật đất đai năm 2013: “Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả“.

Như vậy, trong trường hợp cá nhân, hộ gia đình bị chậm thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ thì có thể yêu cầu tính lãi chậm trả từ ngày thứ 31, kể từ ngày quyết định thu hồi có hiệu lực thi hành. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 59 Luật quản lý thuế năm 2019: (1) Mức tính tiền chậm trả được tính bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền chậm trả; (2) Thời gian tính tiền chậm trả được tính từ ngày thứ 31 kể từ ngày quyết định thu hồi có hiệu lực thi hành đến ngày liền kề trước ngày cơ quan nhà nước chi trả.

Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn liên quan không có hướng dẫn chi tiết về mẫu đơn đề nghị yêu cầu thanh toán tiền chậm trả bồi thường, hỗ trợ. Do đó, người có đất bị thu hồi có thể yêu cầu Luật sư hỗ trợ soạn thảo văn bản.

Thông thường, mẫu đơn đề nghị nêu trên có những nội dung chính sau: (1) cơ quan được đề nghị thanh toán; (2) người đề nghị thanh toán; (2) tên dự án thu hồi đất; (3) ngày có hiệu lực của quyết định thu hồi đất; (4) ngày phát sinh tiền chậm trả, (5) Tiền yêu cầu thanh toán (tạm tính),…

Hộ gia đình, cá nhân không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ thì không được thanh toán tiền chậm chi trả.

Khoản 3 Điều 93 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Trường hợp người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc nhà nước“.

Trường hợp đơn vị gửi tài sản bảo quản là tiền mặt hoặc ngoại tệ tiền mặt vào tài khoản tạm giữ chờ xử lý của đơn vị thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư 135/2018/TT-BTC quy định việc quản lý đối với tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý tạm gửi, tạm giữ do Kho bạc Nhà nước nhận bảo quản: “Đối với tiền mặt nộp tại Kho bạc Nhà nước: Kho bạc Nhà nước kiểm đếm xác định giá trị tài sản và hạch toán vào tài khoản tạm giữ chờ xử lý của đơn vị tại Kho bạc Nhà nước theo quy định tại Thông tư số 77/2017/TT-BTC ngày 28/7/2017 của Bộ Tài chính“.

Trên cơ sở đó, đối với các khoản tạm thu, tạm giữ tại Kho bạc nhà nước, khi có quyết định xử lý của cấp có thẩm quyền thì xử lý ngay theo quyết định cuối cùng đó, nếu chưa có quyết định xử lý thì chuyển số dư sang năm sau để tiếp tục theo dõi, xử lý. Việc Kho bạc nhà nước tạm giữ tiền bồi thường, hỗ trợ của người bị thu hồi thì không phát sinh nghĩa vụ trả lãi theo quy định của pháp luật.

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật ….., gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Phải thanh toán nghĩa vụ tài chính trước khi nhận tiền bồi thường, hỗ trợ

Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường để hoàn trả ngân sách nhà nước.

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 30 Nghị định số 47/2017/NĐ-CP thì: “Khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước nhưng đến thời điểm thu hồi đất vẫn chưa nộp“.

Trường hợp số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có quyết định thu hồi đất lớn hơn số tiền được bồi thường, hỗ trợ thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó; nếu hộ gia đình, cá nhân được bố trí tái định cư thì sau khi trừ số tiền bồi thường, hỗ trợ vào số tiền để được giao đất ở, mua nhà ở tại nơi tái định cư mà số tiền còn lại nhỏ hơn số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó.

Tiền được bồi thường để trừ vào số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính gồm tiền được bồi thường về đất, tiền được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có). Không trừ các khoản tiền được bồi thường chi phí di chuyển, bồi thường thiệt hại về tài sản, bồi thường do ngừng sản xuất kinh doanh và các khoản tiền được hỗ trợ vào khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai.

Xem thêm:

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật đất đai được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật:1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây