Cùng một mảnh đất có được tặng cho hai lần không?

0
551
5/5 - (5 bình chọn)

Câu hỏi

Trước năm 1975, tôi là (ông A), sinh ra và lớn lên sống cùng chung trong hộ khẩu của cha mẹ đẻ. Đến năm 1997 cha chết. Vào năm 2000, tôi (ông A) và vợ con của ông A tách hộ khẩu ra ở cùng chung một nhà với mẹ. Cùng một địa chỉ, sinh ra và lớn lên chung căn nhà với mẹ. Nguồn gốc đất cha mẹ và tôi đang ở do ông bà để lại nhưng chưa có quyền sử dụng đất. Đến năm 2010, nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mẹ tôi đại diện đứng tên hộ bà. Sau khi có sổ đỏ rồi đến năm 2013, mẹ tôi có cho riêng ông A 02 lô đất (01 lô đất mẹ cho đã có nhà, 01 lô đất tôi tự xây dựng nhà ở sử dụng đến hiện nay) có đầy đủ anh chị em trong gia đình xác nhận tờ giấy viết tay của mẹ tôi đã cho ông A. Đến năm 2016, anh trai tôi (ông B), mẹ tôi lúc này đã tuổi 89. Lợi dụng mẹ tôi thiếu hiểu biết, đưa mẹ tôi đến phòng công chứng tư làm hợp đồng tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất: tặng riêng nhà của ông A cùng 01 căn nhà thờ). Vậy ông B phạm về luật gì trong khi công nhận phần đất nhà ở mà mẹ đã cho ông A. Vậy khi phòng công chứng tự làm hợp đồng tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất cho ông B mà trong đó có phần đất mẹ cho ông A 02 lô, có phạm luật hay không? Và ông B phạm vào luật gì? Mong được nhận phản hồi sớm từ luật sư.

Luật sư tư vấn trả lời

Căn cứ thông tin bạn cung cấp, mảnh đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình mẹ bạn. Đến năm 2013 mẹ bạn xác lập giao dịch dân sự tặng cho ông A 02 lô đất. Tuy nhiên, việc tặng cho quyền sử dụng đất không được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 129 Luật Đất đai 2003, sửa đổi, bổ sung 2009 (Luật có hiệu lực tại thời điểm thực hiện giao dịch):

“Điều 129. Trình tự, thủ tục đăng ký thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất

Việc nộp hồ sơ thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất được quy định như sau:

Hồ sơ thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất nộp tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại nông thôn thì nộp tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

Hồ sơ thừa kế quyền sử dụng đất gồm di chúc hoặc biên bản phân chia thừa kế hoặc bản án, quyết định giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp người được nhận thừa kế là người duy nhất thì hồ sơ thừa kế gồm đơn đề nghị và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất gồm văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho hoặc quyết định của tổ chức tặng cho quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước.

Mà đăng ký quyền sử dụng đất là việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đất xác định vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

Như vậy, đối chiếu với trường hợp của bạn, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật; đồng thời, bạn chưa đăng ký quyền sử dụng đất tại văn phòng đăng ký đất đai. Do đó, bạn chưa được xác định là người sử dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp luật. Vì vậy, người sử dụng đất hợp pháp được xác định trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là hộ gia đình mẹ bạn nên mẹ bạn có quyền chuyển nhượng, tặng cho phần đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình cho người khác nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013:

“Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

Đất không có tranh chấp;

Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

Trong thời hạn sử dụng đất.

Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.”

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây