Đăng ký khai sinh: Trường hợp sinh con trước khi kết hôn

0
788
5/5 - (4 bình chọn)

Trong xu thế phát triển, hội nhập hóa, việc sinh con trước khi kết hôn giữa các cặp đôi trở thành một điều bình thường, không hề áp lực, chịu rào cản nặng nề như trước đây. Khai sinh, khai tử là quyền nhân thân của mỗi cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ (Điều 30 bộ luật dân sự năm 2015). Theo đó, cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh; cá nhân chết phải được khai tử. Tuy nhiên, vẫn còn những trường hợp đặc biệt do vướng mắc về giấy tờ hay áp dụng quy định pháp luật mà chưa thực hiện được.

Bài viết được thực hiện bởi: Trần Hồng Sơn – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

– Tình huống:

Chị A và anh B có quan hệ tình cảm và sinh con ngày 04/12/2020 tại bệnh viện B.M, thành phố H.N (Đã được cấp giấy chứng sinh do bệnh viện B.M cấp cùng ngày). Sau khi sinh con, chị A và anh B đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L.H, huyện V, thành phố N.Đ (Nơi anh B có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 02/02/2021. Sau khi đăng ký kết hôn, Anh B đã đến Ủy ban nhân dân xã L.H, huyện V, thành phố N.Đ để thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu bé, đồng thời đề nghị được ghi tên mình vào phần tên cha của trẻ trong giấy khai sinh. Tuy nhiên, cán bộ một cửa tại đây yêu cầu ngoài các giấy tờ về nhân thân, giấy chứng sinh, đăng ký kết hôn thì anh B bắt buộc phải có văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền xác nhận quan hệ cha con giữa anh B và cháu bé nếu không sẽ không thực hiện được.

– Quan điểm cá nhân:

Đối với trường hợp này, tác giả không đồng ý với quan điểm của cán bộ một cửa Ủy ban nhân dân xã L.H, huyện V, thành phố N.Đ về việc yêu cầu anh B bắt buộc phải có văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền xác nhận quan hệ cha con giữa anh B và cháu bé. Bởi đây là một trường hợp đặc biệt được quy định cụ thể tại khoản 3 điều 16 thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28 tháng 5 năm 2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật hộ tịch và nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch.

– Trường hợp này cần lưu ý một số điểm như sau:

Thứ nhất, con do người vợ sinh ra phải trước thời điểm hai vợ, chồng đăng ký kết hôn hợp pháp. Đối với trường hợp này đã thỏa mãn, cụ thể là ngày con do người vợ sinh ra là ngày 04/12/2020 tại bệnh viện B.M, thành phố H.N (Đã được cấp giấy chứng sinh do bệnh viện B.M cấp cùng ngày) trước thời điểm cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 02/02/2021. Thứ hai, con sinh ra chưa được đăng ký khai sinh (thỏa mãn). Như vậy, trường hợp này chị A và anh B cần lập một văn bản thừa nhận là con chung để có thể áp dụng quy định tại khoản 3 điều 16 của thông tư số 04/2020/TT-BTP nhằm thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh kết hợp ghi thông tin của anh B vào giấy khai sinh của con. Vậy, đối với những trường hợp sinh con trước khi kết hôn thì đây có thể là 1 phương pháp giải quyết nhanh chóng, thuận tiện, phù hợp.

Xem thêm:

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

             

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây