Trích lục khai tử? Ai có thể thực hiện?

0
430
Đánh giá

Thủ tục cấp trích lục hộ tịch là một trong những thủ tục được thực hiện nhiều nhất do nhu cầu thực tiễn phát sinh liên tục. Trích lục khai tử cũng là một trong những thủ tục được thực hiện khác nhiều nhưng không phải ai cũng nắm rõ và biết cách thực hiện, bài viết sẽ cung cấp cho quý bạn đọc tình huống giả định và hướng tháo gỡ, giải quyết vấn đề.

Bài viết được thực hiện bởi: Trần Hồng Sơn – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Tình huống

Ngày 08/3/2019, anh N.Đ.M thực hiện thủ tục trích lục giấy khai tử của ông N.Đ.A (ông nội của anh N.Đ.M) nhằm phục vụ việc khai nhận di sản thừa kế do bố đẻ của anh để lại là ông N.Đ.C nhưng bị từ chối, không thực hiện được vì anh M thiếu hồ sơ, cụ thể là không chứng minh được quan hệ với ông A.

Quan điểm

Trong trường hợp này cần xác định việc khai tử của ông A từ thời điểm nào, cơ quan nào đang lưu giữ sổ hộ tịch để cấp trích khai tử. Trong trường hợp này là Ủy ban nhân dân cấp xã/phường nơi ông A có hộ khẩu thường trú hoặc nơi ông A cư trú cuối cùng trước khi chết. Sau khi xác định được cơ quan có thẩm quyền thì anh M cần cung cấp các giấy tờ về nhân thân, hoàn thiện tờ khai để thực hiện thủ tục. Việc cơ quan Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thụ lý, giải quyết cấp trích lục không thực hiện cấp trích lục giấy khai tử cho ông A mà yêu cầu anh M phải chứng minh quan hệ giữa ông – cháu là có căn cứ mặc dù chưa rõ ràng. Đối với trường hợp này anh M có thể yêu cầu cán bộ từ chối thụ lý trả lời bằng văn bản.

Tuy nhiên, xét từ cơ sở lý luận và pháp luật thực tiễn Luật Hộ tịch năm 2014 không quy định cụ thể nào về người có quyền yêu cầu cấp trích lục khai tử. Tại Điều 61 Luật Hộ tịch quy định “1. Cơ sở dữ liệu hộ tịch được quản lý, bảo mật, bảo đảm an toàn; chỉ những cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền mới được tiếp cận và khai thác theo quy định của pháp luật. 2. Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch có trách nhiệm bảo đảm bí mật cá nhân trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch”. Ngoài ra, tác giả cho rằng có thể dựa vào những căn cứ vào những điều luật sau để xác định người có quyền yêu cầu: Khoản 1 Điều 33 Luật hộ tịch năm 2014 quy định: “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử”. Khoản 2 Điều 34 Luật hộ tịch 2014 quy định: “Ngay sau khi nhận giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc khai tử đúng thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung khai tử vào Sổ hộ tịch, cùng người đi khai tử ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người đi khai tử.” Như vậy, vợ, chồng, hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử. Đồng thời, cũng là người có quyền xin cấp trích lục khai tử. Trong đó người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời (khoản 19 Điều 3 Luật HNGĐ 2014). Như vậy, đối với trường hợp này, anh M có thể đề nghị cán bộ vận dụng để thực hiện việc cấp giấy trích lục khai tử của ông A bằng cách xuất trình giấy khai sinh của anh M và giấy khai sinh của ông C (là con của ông A) để từ đó chứng minh việc anh M là cháu nội của ông A. Từ đó, anh M có thể thực hiện việc cấp giấy trích lục khai tử của ông A.

Hiện nay, đối với trường hợp của anh M có thể thực hiện việc trích lục khai tử của ông nội là ông A một cách đơn giản, tiết kiệm thời gian và công sức. Căn cứ Điều 12, Điều 13 Nghị định số 87/2020/NĐ-CP ngày 28/7/2020 quy định về cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến, anh N.Đ.M hoàn toàn có thể ngồi tại nhà hoặc bất cứ nơi nào có mạng internet để đăng ký thực hiện thủ tục trên và đăng ký nhận chuyển phát theo đường bưu điện tại địa chỉ bất kỳ.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây