Giành quyền nuôi con sau ly hôn khi chồng ngoại tình

Bởi Trần Thu Thủy - 20/12/2019
view 467
comment-forum-solid 0
Theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại tòa án không thành thì tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Việc chứng minh mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức phải ly hôn thuộc về đương sự (người có yêu cầu được ly hôn). Trường hợp vợ hoặc chồng ngoại tình, người kia có thể thu thập chứng cứ nhưng pháp luật không bắt buộc phải xuất trình được chứng cứ về sự ngoại tình đó. Lời trình bày của đương sự mà phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ cũng được tòa án chấp nhận làm căn cứ khi giải quyết vụ án.

Luật gia Nguyễn Đức Anh - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Về con chung, theo quy định tại Khoản 2 Điều 81: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Quyền nuôi con phải được căn cứ vào quyền lợi của đứa trẻ. Các yếu tố được xem xét gồm: tư cách, lối sống, thời gian dành cho con, lứa tuổi, giới tính của con, việc làm, thu nhập, chỗ ở của cha, mẹ sau ly hôn... Do vậy, không có sự đảm bảo chắc chắn nào là vợ hay chồng sẽ được nuôi con bởi còn phụ thuộc vào khả năng, điều kiện của các bên.

Về tài sản, theo quy định tại Điều 33: Về tài sản chung của vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 40 của Luật này (phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân); tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Như vậy, nếu ngôi nhà hay mảnh đất được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì là tài sản chung vợ chồng. Nếu vợ hoặc chồng cho rằng đó là tài sản riêng thì ấy phải chứng minh. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Về chia tài sản, theo quy định tại Khoản 2 Điều 59, khi ly hôn tài sản chung của vợ chồng được chia đôi (trừ trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận) nhưng có tính đến các yếu tố sau:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Như vậy, theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 59, lỗi của mỗi bên sẽ tác động trực tiếp đến việc chia tài sản khi ly hôn. Nói cách khác, bên nào có lỗi nhiều hơn dẫn đến việc ly hôn thì có thể được chia phần tài sản ít hơn so với phần đáng lẽ mà họ được hưởng.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật gia Nguyễn Đức Anh – Công ty Luật TNHH Everest

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.19340 sec| 993.781 kb