Thu giữ tài sản thế chấp của Ngân hàng theo Nghị quyết 42/2017/QH14

0
1347
5/5 - (8 bình chọn)

Ngân hàng thương mại có thể thu giữ tài sản thế chấp của khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả nợ khi đến hạn, tuy nhiên, việc thu giữ cần tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật gia Trần Thị Thu Hoài – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Hợp đồng vay tín dụng tại Ngân hàng thương mại

Bản chất hợp đồng tín dụng

Theo quy định của pháp luật dân sự, hợp đồng là sự thỏa thuận của của hai hay nhiều bên làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên. 

Như vậy có thể hiểu, hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) và khách hàng theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

Ngay trong định nghĩa có thể thấy được hợp đồng tín dụng đơn giản là một sự thỏa thuận giữa hai bên. Xuất phát là một quan hệ dân sự, các nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng tín dụng dựa trên các nguyên tắc chung của Bộ luật dân sự năm 2015 đó là: “Thương lượng, thỏa thuận, bình đẳng”.

Điều 4 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng: “Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được thực hiện theo thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, phù hợp với quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan bao gồm cả pháp luật về bảo vệ môi trường.”

Các loại hợp đồng tín dụng

Tùy vào tiêu chí phân loại mà hợp đồng tín dụng được chia thành nhiều loại khác nhau. Hiện nay dựa vào mục đích sử dụng, hợp đông tín dụng được chia thành hai loại:

  • Hợp đồng cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh;
  • Hợp động cho vay phục vụ nhu cầu đời sống (hợp đồng tín dụng tiêu dùng).

Hiện nay hơn 90% nhu cầu cho vay cho Ngân hàng thương mại phục vụ nhu cầu kinh doanh của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp. Các cá nhân, doanh nghiệp thỏa thuận vay khoản tiền của ngân hàng vào mục đích thực hiện các công việc kinh doanh của mình.

Thế chấp là biện pháp bảo đảm cho hợp đồng tín dụng

Để đảm bảo cho khả năng hoàn trả các khoản tiền vay của khách hàng cho ngân hàng thương mại (tổ chức tín dụng), thông thường bên cạnh hợp đồng tín dụng, ngân hàng thương mại và khách hàng sẽ thiết lập các hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Trong 07 (bảy) biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, thế chấp tài sản là biện pháp thường được sử dụng nhiều nhất. Hợp đồng thế chấp bản chất là một biện pháp bảo đảm nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng. Thông thường, các tài sản thế chấp thường là bất động sản như quyền sử dụng đất, nhà. Trong trường hợp khách hàng đến hạn thanh toán mà không trả được nợ hoặc trả không đủ số nợ, hợp đồng thế chấp là căn cứ để đảm bảo cho việc trả nợ cho khách hàng, ràng buộc khách hàng trả đúng, đủ khoản vay.

Ngân hàng có thể thu giữ tài sản thế chấp trong những trường hợp nào?

Là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, do vậy, các quy định về xử lý , thu giữ tài sản bảo đảm được thực hiện theo Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm và Nghị quyết 42/2017/NQ-QH về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Trong trường hợp, bên vay không hoặc chưa trả nợ khi đến hạn nghĩa là bên vay vi phạm nghĩa vụ đối với ngân hàng thương mại. Trong  trường hợp này tranh chấp có thể xảy ra.  Trong trường hợp khách hàng không trả được khoản nợ đối với ngân hàng, để đảm bảo quyền lợi của ngân hàng thương mại, pháp luật quy định về các phương thức giải quyết. Quan hệ tín dụng là quan hệ dân sự, do vậy việc giải quyết tranh chấp về việc không thực hiện nghĩa vụ của khách hàng có thể được thực hiện bằng hai phương thức giải quyết: Xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật dân sự hoặc giải quyết tranh chấp tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Trong trường hợp tranh chấp không được giải quyết, ngân hàng có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật

Về trường hợp xử lý tài sản bảo đảm, Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tài sản bảo đảm chỉ được xử lý trong 03 trường hợp: Thứ nhất, đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; Thứ hai, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; Thứ ba, trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.

Về nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm được xử lý trên sự thỏa thuận của các bên. Điều 303 quy định có 04 phương thức xử lý tài sản bảo đảm gồm: bán đấu giá tài sản; bên nhận bảo đảm tự bán tài sản; bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm; phương thức khác. Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm đều phải dựa trên sự thỏa thuận của các bên. Vì vậy không có trường hợp một trong các bên đơn phương xử lý tài sản bảo đảm. Đối với trường hợp ngân hàng thương mại nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của khác hàng thì phải được thỏa thuận khi xác lập giao dịch bảo đảm. Trường hợp không có thỏa thuận, ngân hàng thương mại chỉ được nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ khi khách hàng (bên bảo đảm) đồng ý bằng văn bản.

Đây là những quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về việc xử lý tài sản thế chấp, trường hợp ngân hàng thương mại nhận chính tài sản bảo đảm buộc phải tuân thủ quy định nêu trên.

Trong trường hợp nợ xấu theo quy định, ngân hàng thương mại có thể áp dụng Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/06/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Theo đó, ngân hàng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm nhưng phải đáp ứng các điều kiện, quy trình Nghị quyết này quy định.

Thông tư 02/2013/TT-NHNH quy định về phân loại nợ ngân hàng bao gồm 05 nhóm: Nợ đủ tiêu chuẩn (nợ nhóm 1: Nợ trong hạn, hoặc quá hạn dưới 10 ngày), nợ cần chú ý (nợ nhóm 2: Quá hạn từ 10 – 90 ngày;), Nợ dưới tiêu chuẩn (nợ nhóm 3: Quá hạn từ 91 – 180 ngày);  Nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4: Quá hạn từ 181 – 360 ngày) và nợ có khả năng mất vốn dựa vào tình trạng quá hạn (nợ nhóm 5: Nợ quá hạn trên 360 ngày). Trong đó, nợ nhóm 3, 4, 5 thuộc nhóm nợ xấu và được áp dụng quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14.

Cụ thể là khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 299 của Bộ luật Dân sự năm 2015, bên bảo đảm, bên giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm kèm theo đầy đủ giấy tờ, hồ sơ pháp lý của tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu để xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm hoặc trong văn bản khác (sau đây gọi là hợp đồng bảo đảm) và quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Như vậy có thể hiểu rằng, ngân hàng thương mại có quyền thu giữ tài sản thế chấp trong trường hợp giữa ngân hàng thương mại và khách hàng có thỏa thuận rõ rằng trong hợp đồng bảo đảm về quyền thu giữ của ngân hàng thương mại. Đồng thời việc thu giữ tài sản bảo đảm phải đúng quy định của Nghị quyết này.

Khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định: “Chậm nhất là 15 ngày trước ngày tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm là bất động sản, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu thực hiện công khai thông tin về thời gian, địa điểm thu giữ tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm được thu giữ, lý do thu giữ theo quy định sau đây: a) Đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của mình; b) Gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan Công an nơi có tài sản bảo đảm; c) Niêm yết văn bản thông báo tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ theo hợp đồng bảo đảm và trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bảo đảm; d) Thông báo cho bên bảo đảm bằng văn bản theo đường bưu điện có bảo đảm đến địa chỉ của bên bảo đảm theo hợp đồng bảo đảm hoặc gửi trực tiếp cho bên bảo đảm.”

Trong một số trường hợp tài sản thế chấp là bất động sản bao gồm: nhà ở hoặc quyền sử dụng đất, ngân hàng thương mại phải công khai đầy đủ thông tin về thời gian, địa điểm thu giữ tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm được thu giữ, lý do thu giữ nhằm đảm bảo công khai,minh bạch trong việc xử lý nợ xấu, tránh các hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình xử lý nợ xấu. Theo đó, trước khi tiến hành thu giữ tài sản là bất động sản, ngân hàng phải đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của mình; gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan Công an nơi có tài sản bảo đảm; niêm yết văn bản thông báo tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ theo hợp đồng bảo đảm và trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bảo đảm. Đặc biệt, ngân hàng thương mại phải thông báo cho khách hàng được biết về việc thu giữ tài sản bảo đảm.

Như vậy, ngân hàng có quyền thu giữ tài sản trong trường hợp xử lý nợ xấu nhưng phải đáp ứng các điều kiện pháp luật quy định. Trường hợp có tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu thì cần phải đưa tranh chấp ra Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định chứ không được tùy tiện “cưỡng chế”, “tịch thu” tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức; xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Tuy nhiên cần lưu ý, Nghị quyết 42/2017/QH14 chỉ thí điểm về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Do vậy, việc áp dụng các quy định này cần phải có sự hướng dẫn cụ thể.

Một số trường hợp ngân hàng đơn phương thu hồi tài sản của khách hàng mặc dù khách hàng không đồng ý? Có vi phạm quy định pháp luật?

Hiện nay, xuất hiện một số vụ việc ngân hàng thương mại tự ý thu giữ tài sản của khách hàng mà không có sự đồng ý của khách hàng như chặn xe uy hiếp, chiếm nhà bất hợp pháp, đe dọa uy hiếp khách hàng giao nộp tài sản…Việc thu giữ tài sản bảo đảm như vậy không đúng theo quy định của pháp luật. Những hành vi uy hiếp, đe dọa, dùng vũ lực kiểu “xã hội đen” tùy vào mức độ nguy hiểm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, các tổ chức tín dụng khi thu giữ tài sản thế chấp cần tuân thủ các quy định của pháp luật, tránh tình trạng sử dụng những biện pháp trái quy định pháp luật.

Xem thêm: Thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng – Những điều cần biết

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây