Những hiểu lầm về trách nhiệm của người làm từ thiện

0
330
Đánh giá

Trong thời gian gần đây hoạt động từ thiện của các nghệ sĩ đang là vấn đề nóng được quan tâm.  Xoay quanh vấn đề đó, hiện nay đang có nhiều hiểu lầm về trách nhiệm của những người làm từ thiện. Hãy cùng chúng tôi làm rõ những vấn đề về trách nhiệm của người làm từ thiện trong bài viết sau: 

Những hiểu lầm về trách nhiệm của người làm từ thiện
Bài viết được thực hiện bởi: Chuyên viên Huỳnh Thu Hương – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Không phải ai cũng có quyền kêu gọi từ thiện

Nghị định số 64/2008/NĐ-CP quy định về vấn đề vấn đề kêu gọi từ thiện như sau:

“Không một đơn vị, tổ chức, cá nhân nào có quyền tổ chức tiếp nhận tiền, hàng cứu trợ, ngoài những tổ chức được pháp luật cho phép, bao gồm những tổ chức sau: Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và các cấp ở địa phương; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Báo, đài của Trung ương, địa phương; các quỹ xã hội, quỹ từ thiện được thành lập, hoạt động theo quy định,…”

Như vậy nếu đối chiếu quy định này với các hoạt động từ thiện hiện nay thì nhiều người đang làm trái với quy định tại Nghị định số 64/2008/NĐ-CP. Tuy nhiên những hành vi đó lại không vi phạm quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ tại điều 562 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định như sau: “Các cá nhân, tổ chức có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện một công việc nhất định.”

Chính vì thế ta có thể hiểu đó bao gồm cả việc từ thiện. Với quy định này thì các tổ chức, cá nhân có thể tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận nhưng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội về vấn đề làm từ thiện.

Mặc dù hiện nay Nghị định số 64/2008/NĐ-CP và Bộ luật Dân sự năm 2015 đều đang có hiệu lực và chưa có sự thống nhất với nhau nhưng việc thực hiện theo luật gần nhất là phù hợp.

Như vậy, mọi cá nhân, tổ chức có thể nhận ủy quyền, nhận tiền để làm từ thiện nếu họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự hoặc có tư cách pháp nhân.

Người làm từ thiện không được phép giữ bí mật về số tiền ủng hộ

Như đã phân tích ở trên, mối quan hệ giữa người làm từ thiện và người ủng hộ để hợp pháp thì phải là mối quan hệ ủy quyền trong một giao dịch dân sự.

Căn cứ theo Khoản 4 điều 565 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người làm từ thiện (bên được ủy quyền) có thể giữ bí mật về toàn bộ thông tin, bao gồm cả số tiền từ thiện với những người không liên quan trong giao dịch dân sự này. Tuy nhiên, nếu người ủng hộ yêu cầu thì người làm từ thiện sẽ có nghĩa vụ công khai.

Người làm từ thiện có thể giữ lại số tiền để làm việc từ thiện khác nếu không trao hết số tiền ủng hộ

Nếu không trao hết số tiền ủng hộ, người làm từ thiện không được phép giữ lại số tiền để làm việc từ thiện khác. Căn cứ theo khoản 1 Điều 565 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người được ủy quyền (người làm từ thiện) phải thực hiện công việc theo ủy quyền. Quy định này có nghĩa là, họ phải trao đủ tiền ủng hộ của người ủng hộ cho đúng người cần giúp đỡ như thỏa thuận.

Căn cứ theo khoản 2 điều 568 Bộ luật Dân sự 2015 người ủng hộ có quyền yêu cầu người làm từ thiện giao lại tài sản nếu họ sử dụng tiền không đúng mục đích.

Vì là giao dịch dân sự nên sẽ tôn trọng quyền tự định đoạt của hai bên, do đó người làm từ thiện có thể giữ lại số tiền để làm việc từ thiện khác nếu không trao hết số tiền ủng hộ khi được sự đồng ý của người ủng hộ.

Nhận tiền ủng hộ nhưng không thể thực hiện vì lý do bất khả kháng là hành vi vi phạm pháp luật?

Vấn đề này đã được quy định cụ thể tại khoản 2 điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan, được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong điều kiện và khả năng cho phép nhưng không thể tiên liệu và khắc phục được như việc lũ lụt, động đất, núi lửa, chiến tranh,…

Do đó, hành vi nhận tiền ủng hộ nhưng không thực hiện vì lý do bất khả kháng không phải là hành vi vi phạm pháp luật. Nhưng người làm từ thiện phải báo cáo tình hình này cho những người ủng hộ.

Ai cũng có quyền yêu cầu người từ thiện sao kê, giải trình thu chi

Căn cứ theo Khoản 1 điều 568 Bộ luật Dân sự 2015 thì bên ủy quyền có quyền: “Yêu cầu bên được ủy quyền thông báo đầy đủ về việc thực hiện công việc ủy quyền.”

Chính vì thế, người làm từ thiện chỉ có nghĩa vụ phải báo cáo với những người ủng hộ và cũng chỉ có những người ủng hộ mới có quyền yêu cầu người làm từ thiện báo cáo công việc từ thiện của họ, cũng như yêu cầu người làm từ thiện sao kê, giải trình thu chi.

Nếu người từ thiện không sao kê, người ủng hộ tiền không được phép lên tiếng chỉ trích trên mạng xã hội

Quyền lên tiếng trên mạng xã hội được xuất phát từ quyền tự do ngôn luận của mỗi cá nhân được hiến định tại Hiến pháp năm 2013.

Tuy nhiên, việc chỉ trích người khác trên mạng xã hội cần phải đảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền nhân thân, danh dự, uy tín, nhân phẩm, không đưa những thông tin sai sự thật mang tính chất vu khống, bôi nhọ, làm nhục người khác.

Nếu người làm từ thiện không minh bạch, người ủng hộ tiền không có quyền kiện

Trường hợp nghi ngờ việc từ thiện không minh bạch, người ủng hộ tiền có quyền yêu cầu làm rõ. Nếu người làm từ thiện không thực hiện được thì có thể coi đó là hành vi vi phạm hợp đồng ủy quyền, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người ủng hộ tiền.

Điều 186 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại tòa có thẩm quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Theo đó, người ủng hộ hoàn toàn có thể khởi kiện người làm từ thiện nếu việc làm này không minh bạch.

Mọi hành vi xúc phạm, bôi nhọ người làm từ thiện đều không vi phạm pháp luật

Về xử phạt, bất kỳ ai có cử chỉ, lời nói, hành vi bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người làm từ thiện trên mạng xã hội đều bị xử phạt hành chính từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng, theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP.

Trường hợp xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, người vi phạm sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền 10-30 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm về tội Làm nhục người khác, theo điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Nếu cố tình bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người làm từ thiện, người vi phạm sẽ bị phạt tiền 10-50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm về tội Vu khống, theo điều 156 Bộ luật Hình sự 2015.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về những kiến thức pháp luật bổ ích, hãy truy cập: Pháp trị.vn

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn