Quy định về chuyển giao quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ

0
82
Đánh giá

Hiện nay, việc chuyển giao quyền yêu cầu trong nghĩa vụ dân sự rất được nhiều người quan tâm. Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm các quy định pháp luật có liên quan đến việc chuyển giao quyền yêu cầu trong nghĩa vụ dân sự này. Vậy việc chuyển giao quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ được pháp luật quy định như thế nào?

chuyển giao quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật dân sự, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Quy định về việc chuyển giao quyền yêu cầu

Điều 309 Bộ luật Dân sự việc chuyển giao quyền yêu cầu được quy định:

Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận, trừ những trường hợp sau:

(i) Quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tình mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phâm, uy tín.

(ii) Bên có quyền và bên có nghĩa vụ thỏa thuận không được chuyển giao.

Khi bên có quyền chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế quyền thì người thế quyền trở thanh bên có quyền yêu cầu.

Người chuyển giao quyền yêu cầu phải báo cho bên có nghĩa vụ bằng văn bản về việc chuyển giao quyền yêu cầu. Việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần sự đồng ý của bên có nghĩa vụ trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Về hình thức: Việc chuyển giao quyền yêu cầu có thể được lập thành văn bản hoặc bằng lời nói, nếu pháp luật có định việc chuyển giao phải lập thành văn bản, phải công chứng, phải đăng ký, phải xin phép thì phải tuân theo quy định đó…

Tìm hiểu thêm bài viết: Các vấn đề pháp lý về nghĩa vụ dân sự

Nghĩa vụ cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ khi chuyển giao quyền yêu cầu

Trong quan hệ dân sự, quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ có thể được chuyển giao cho người thứ ba. Theo đó, bên chuyển giao có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ cho bên nhận chuyển giao. Cụ thể, Điều 366 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ như sau:

“Điều 366. Nghĩa vụ cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ
1. Người chuyển giao quyền yêu cầu phải cung cấp thông tin cần thiết, chuyển giao giấy tờ có liên quan cho người thế quyền.
2. Người chuyển giao quyền yêu cầu vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại”.

Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ

Theo Điều 314 Bộ luật Dân sự thì Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ được thực hiện khi:

Trường hợp bên có nghĩa vụ không nhận được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu hoặc người thế quyền không chứng minh được về tính xác thực của việc chuyển giao quyền yêu cầu thì bên có nghĩa vụ có quyền từ chối việc thực hiện nghĩa vụ đối với người thế quyền.

Trong trường hợp bên có nghĩa vụ do không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu mà đã thực hiện nghĩa vụ đối với người chuyển giao quyền yêu cầu thì người thế quyền không được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự được thực hiện như sau:

Điều 315 chuyển giao nghĩa vụ dân sự:

Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ dân sự cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ.

Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ.

Hình thức chuyển giao nghĩa vụ cũng nhưng việc chuyển giao quyền yêu cầu.

Xem thêm: Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ

Bạn đọc có thể tham khảo thêm nội dung liên quan tại đây

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn