Hiểu thế nào về tín chấp trong pháp luật dân sự

0
129
Đánh giá

Hiện nay, vay tín chấp là một trong những hình thức phổ biến nhất bên cạnh vay mua nhà. Người đi vay cần lưu ý điều gì khi vay không thế chấp để bảo vệ quyền và lợi ích của mình?

Hiểu thế nào về tín chấp trong pháp luật dân sự
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực nêu trên, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Khái niệm tín chấp

Tín chấp là thuật ngữ được nhiều người biết đến trong đời sống xã hội. Theo ngữ nghĩa, việc sử dụng uy tín của một cá nhân, tổ chức để vay tiền hoặc để bảo đảm một nghĩa vụ nào đó được hiểu là không cần thế chấp. Khoản vay tín chấp hiện nay không được định nghĩa trong bất kỳ văn bản pháp luật nào.

Mặc dù không có định nghĩa chính thức về tín dụng không có bảo đảm, nhưng Bộ luật Dân sự đã dành hẳn một phần quy định về tín dụng không có bảo đảm. Do đó tín dụng không có bảo đảm. Là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện đúng nghĩa vụ bên cạnh việc cầm cố, cho vay, đặt cọc, ký cược … theo quy định tại Điều 292 Bộ luật dân sự.

Ngoài ra, Điều 344 Bộ luật này nêu rõ:

Tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo quy định của pháp luật.

Bảo đảm bằng tín chấp của tổ chức chính trị xã hội

Quy định về đảm bảo bằng tín chấp.

Theo quy định tại Điều 45 Nghị định 21/2021 / NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 15/5/2021), nội dung trên được quy định như sau:
Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Đoàn thể là bên bảo đảm bằng tím chấp, trừ trường hợp Điều lệ tổ chức này quy định khác.
Bảo đảm bằng tín chấp của tổ chức chính trị xã hội

 

Căn cứ Điều 344 Bộ luật Dân sự 2015 quy định. Bảo đảm bằng tín chấp của tổ chức chính trị – xã hội

Tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo quy định của pháp luật.”

Hình thức và nội dung của tín chấp

“Điều 345. Hình thức, nội dung tín chấp

Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có xác nhận của tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp về điều kiện, hoàn cảnh của bên vay vốn.

Thỏa thuận bảo đảm bằng tín chấp phải cụ thể về số tiền, mục đích, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp.”

Nội dung của hợp đồng tín chấp bao gồm cụ thể như sau:

Mức vay: Mức vay được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật về cho vay cá nhân, hộ gia đình nghèo và áp dụng đối với cá nhân, hộ gia đình nghèo.
 
Mục đích vay tín chấp: Với hình thức vay tín chấp luôn có những quy định cụ thể về mục đích vay. Mục đích vay của khoản vay tín chấp thường nhằm vào sản xuất, kinh doanh, nông nghiệp, nông nghiệp,…
 
Thời hạn cho vay: Thời hạn cho vay được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật. Ngoài việc xác định thời hạn cho vay theo đơn vị thời gian, thời hạn cho vay còn được xác định theo một sự kiện nhất định (ví dụ: đối với cá nhân, hộ gia đình. Người nghèo vay tín chấp đi xuất khẩu lao động thì thời hạn của khoản vay sẽ phụ thuộc vào thời gian xuất khẩu của công trình).
 
Lãi suất: lãi suất được quy định trong các văn bản cụ thể của Chương trình cho vay tín chấp dành cho người và hộ nghèo. Đây có thể coi là hình thức vay lãi suất thấp vì lãi suất vay tín chấp thấp. Khoản thế chấp thường thấp hơn lãi suất thông thường.
Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể: bao gồm khách hàng vay, tổ chức tín dụng, tổ chức chính trị – xã hội được bảo lãnh không có bảo đảm.

Bạn đọc có thể tham khảo thêm nội dung liên quan tại đây

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong tín chấp

Bên bảo đảm bằng tín chấp

Căn cứ Điều 45 Nghị định 102/2017 NĐ-CP quy định:

“Điều 45. Bên bảo đảm bằng tín chấp

Trường hợp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tín chấp thì tổ chức ở xã, phường, thị trấn của Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Công đoàn cơ sở là bên bảo đảm bằng tín chấp, trừ trường hợp Điều lệ của tổ chức này quy định khác.”

Chủ động hoặc phối hợp chặt chẽ với các tổ chức tín dụng để hướng dẫn, tạo điều kiện cho khách hàng vay vốn; giám sát việc sử dụng đòn bẩy đúng mục đích và hiệu quả; yêu cầu trả nợ đầy đủ và đúng hạn;

(i) Theo yêu cầu của ngân hàng cho vay, xác nhận các điều kiện và hoàn cảnh của người vay khi vay vốn;
(ii) Các quyền và nghĩa vụ khác mà Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan thoả thuận hoặc quy định.
 
Tổ chức tín dụng cho vay
(i) Yêu cầu bên bảo lãnh tín chấp hỗ trợ xác minh tình hình sử dụng khoản tín dụng và yêu cầu hoàn trả;
(ii) Phối hợp với bên bảo lãnh không có bảo đảm về việc cho vay và thu hồi;
(iii) Các quyền và nghĩa vụ khác đã thoả thuận hoặc quy định trong Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
 

Khách hàng vay có các quyền và nghĩa vụ:

 
(i) Sử dụng vốn vay vào sản xuất, kinh doanh, nhu yếu phẩm, tiêu dùng theo mục đích vay;
(ii) Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng khi cho vay và người bảo lãnh không có bảo đảm phải kiểm tra việc sử dụng tín dụng;
(iii) Trả đủ tiền và lãi (nếu có) đúng hạn cho ngân hàng cho vay;
(iv) Các quyền và nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc quy định của Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

Một số câu hỏi thường

Tự vay tín chấp mà không có bên bảo đảm là tổ chức chính trị xã hội có an toàn không?

Bảo đảm bằng tín chấp là việc tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở bằng uy tín để bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo là thành viên của mình vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo quy định của pháp luật.

Như vậy, tín chấp là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nhưng đối tượng của biện pháp tín chấp chỉ là uy tín của tổ chức mà không phải là tài sản như đôi tượng của các biện pháp bảo đảm khác. Vì vậy, việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có ghi rõ số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức bảo đảm, thế nên Tự vay tín chấp mà không có bên bảo đảm là tổ chức chính trị xã hội không an toàn.

Vay tín chấp có bị khởi kiện không?

Điều 372. Bảo đảm bằng tín chấp của tổ chức chính trị – xã hội

Tổ chức chính trị – xã hội tại cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ theo quy định của Chính phủ.

Điều 373. Hình thức bảo đảm bằng tín chấp

Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có ghi rõ số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức bảo đảm.

Như vậy, việc xác định việc vay này, bạn cần kiểm tra lại văn bản, số tiền, mục đích, thời hạn.

Thế nên, vay tín chấp nếu vi phạm văn bản hợp đồng vẫn bị khởi kiện.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.