Tổ chức xã hội là gì? Những quy định của pháp luật về tổ chức xã hội là gì?

0
46
Đánh giá

Tổ chức xã hội là tổ chức được thành lập trên cơ sở ý chí tự nguyện của các thành viên nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các thành viên, tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Bài viết sau đây sẽ làm rõ khái niệm và phân tích các đặc điểm của tổ chức xã hội. Mời bạn đọc cùng theo dõi.

Tổ chức xã hội là gì? Quy định pháp luật về tổ chức xã hội
Tổ chức xã hội là gì? Quy định pháp luật về tổ chức xã hội

Khái niệm tổ chức xã hội

Tổ chức xã hội là hình thức tổ chức tự nguyện của các công dân, tổ chức Việt Nam có cùng mục đích họp, làm việc theo quy định của pháp luật, phi lợi nhuận, thực hiện lợi ích hợp pháp của các thành viên, của chính quyền và xã hội trong quá trình quản lý.

Với quá trình dân chủ hóa, quyền con người ở Việt Nam ngày càng được pháp luật bảo vệ. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định: Công dân Việt Nam có quyền thành lập hội theo quy định của pháp luật. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các tổ chức. Hiện nay, đất nước thực hiện quá trình “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa thì quyền tự do, dân chủ của công dân ngày càng được chú trọng mở rộng và tự bảo vệ mình. Ngoài ra, xu thế hội nhập quốc tế thúc đẩy sự xuất hiện và phát triển của các tổ chức ở Việt Nam.

Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các tổ chức, đơn vị xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Về mặt chính trị, các tổ chức này là xương sống của chính quyền nhân dân. Với vai trò là sức mạnh hội tụ để đoàn kết toàn thành phố, số lượng người có nhu cầu tham gia hoặc không tham gia các tổ chức nhất định ngày càng tăng. Tuy nhiên, mỗi tổ chức xã hội lại đặt ra những tiêu chuẩn nhất định cho những người mong muốn trở thành thành viên của tổ chức đó.

Nội dung quy chế pháp lý hành chính của tổ chức xã hội

Tổ chức xã hội là gì? Quy định pháp luật về tổ chức xã hội
Tổ chức xã hội là gì? Quy định pháp luật về tổ chức xã hội

Quyền và nhiệm vụ của tổ chức xã hội đối với cơ quan nhà nước

Các tổ chức xã hội khác nhau có các quyền và nhiệm vụ khác nhau đối với cơ quan nhà nước, tùy thuộc vào vị trí và vai trò của loại hình tổ chức tương ứng trong hệ thống chính trị. Mối quan hệ này là mối quan hệ tác động qua lại giữa các tổ chức và bộ máy nhà nước. Đặc biệt, nhà nước bảo đảm khuôn khổ pháp lý cho hoạt động và phát triển của các tổ chức và xác lập trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo đảm cho các tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Thay vào đó, tổ chức xã hội có trách nhiệm tuân theo pháp luật, đồng thời có quyền đặc biệt thể hiện tiếng nói của quần chúng nhân dân trong việc hình thành chính quyền và giám sát chính quyền.

Quyền và nhiệm vụ của tổ chức xã hội trong quan hệ với cơ quan nhà nước được chia thành ba nhóm, đó là: nhóm quyền và nhiệm vụ trong việc thành lập, chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, đổi tên và phê duyệt điều khoản của hội gồm: Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp quận khi được ủy quyền, cụ thể như sau:

Bộ Nội vụ cho phép thành lập, chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, đổi tên và phê duyệt điều khoản của hiệp hội hoạt động cấp quốc gia, liên tỉnh (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).

Chủ tịch Ủy ban nhân dân liên quan đến công tác quản lý hành chính viễn thông ủy quyền thành lập, chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, đổi tên và phê duyệt quy chế hiệp hội đối với các hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực viễn thông. Tùy theo tình hình thực tế của từng nơi, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh có thể ủy quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quyền này đối với các hội có thẩm quyền
trên địa bàn xã.

Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung chấp thuận hoặc từ chối đơn xin thành lập tổ chức xã hội và có quyền chấm dứt hoạt động trong một số trường hợp do pháp luật quy định. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp phép định cư, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xem xét và quyết định cho phép thành lập hội. Trong trường hợp không đồng ý, phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Quyền và nhiệm vụ của tổ chức xã hội trong lĩnh vực pháp luật

Tổ chức xã hội không phải là thiết chế nằm ở các cấp khác nhau của bộ máy nhà nước, mà có những quyền và nhiệm vụ nhất định trong quá trình soạn thảo và thông qua văn bản quy phạm pháp luật và văn bản dưới luật của nhà nước. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện để các tổ chức thực hiện quyền của mình trong các dự thảo pháp luật. Các tổ chức tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật góp phần lan tỏa dân chủ, đồng thời có thể giảm thiểu những sai sót, bất cập trong xây dựng pháp luật, nâng cao hiệu lực nhằm tăng cường tính khả thi và có hiệu quả hơn trên thực tế.

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức xã hội trong lĩnh vực thi hành pháp luật

Tổ chức xã hội có quyền kiểm soát, theo dõi việc áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch; có quyền thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của mình và yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý. Thông qua các hoạt động kiểm tra, giám sát này, các nhóm tổ chức tham gia vào hoạt động quản lý của chính quyền và quản lý xã hội.

Các tổ chức này có thể góp ý để khắc phục những yếu kém của bộ máy nhà nước, xây dựng và củng cố chính quyền ngày càng vững mạnh, loại bỏ những nguyên nhân dẫn đến vi phạm quyền; tích cực ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật; tăng cường tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, viên chức quốc gia; Phòng chống tham nhũng trong các cơ quan chính phủ.

Tổ chức xã hội có quyền và nhiệm vụ truyền bá, giáo dục ý thức pháp luật trong đoàn viên và nhân dân lao động nói chung bằng cách phát động các phong trào quần chúng, sinh hoạt tập thể, trao đổi về khoa học và công nghệ, đường lối, chính trị của Đảng. Quy chế của các tổ chức này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và kiểm soát tính hợp pháp của chúng. Việc các nhóm tổ chức quyết định cho phép thành lập hiệp hội bằng cách liên kết với các tổ chức quốc tế tương ứng, ký kết và áp dụng các hiệp định quốc tế.