Trường hợp nào được thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

0
862
4.8/5 - (16 bình chọn)

Việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai năm 2013 và Khoản 4 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật đất đai.

Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900.6198

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi tắt là Giấy chứng nhận) là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất. Việc thu hồi giấy chứng nhận chỉ được thực hiện nếu thuộc một trong bốn trường hợp dưới đây và phải tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

 Thu hồi khi Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp

Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh và thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì người sử dụng đất có nghĩa vụ nộp lại Giấy chứng nhận đã cấp trước khi được nhận bồi thường, hỗ trợ theo quy định.

Trường hợp Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai và thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người thì người sử dụng đất nộp Giấy chứng nhận đã cấp trước khi bàn giao đất cho Nhà nước.

Tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện thu hồi đất có trách nhiệm thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp và chuyển cho Văn phòng đăng ký đất đai để quản lý, trừ trường hợp cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế.

 Thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp

Cấp đổi Giấy chứng nhận được thực hiện trong các trường hợp :

(i) Người sử dụng đất có nhu cầu đổi Giấy chứng nhận đã cấp trước ngày 10/12/2009 sang loại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

(ii) Giấy chứng nhận đã cấp bị ố, nhòe, rách, hư hỏng;

(iii) Do thực hiện dồn điền, đổi thửa, đo đạc xác định lại diện tích, kích thước thửa đất;

(iv) Trường hợp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc của chồng, nay có yêu cầu cấp đổi Giấy chứng nhận để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng.

Khi đó, người sử dụng đất nộp lại Giấy chứng nhận đã cấp cùng với hồ sơ đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận.

– Thu hồi khi người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận

Đăng ký biến động quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được thực hiện trong các trường hợp chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc trường hợp diện tích đất tăng thêm do nhận chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất đã có Giấy chứng nhận trong trường hợp thửa đất gốc đã được cấp Giấy chứng nhận.

Trong trường hợp này, người sử dụng đất nộp lại Giấy chứng nhận đã cấp cùng với hồ sơ đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận.

Bài viết được thực hiện bởi chuyên viên pháp lý Nguyễn Thị Ngân – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật 1900.6198

 Thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định pháp luật đất đai

Trường hợp Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai thì phải thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp.

Lưu ý: Ngoại trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

Cụ thể việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai tại được thực hiện như sau:

(i) Trường hợp cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra có văn bản kết luận Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp; trường hợp xem xét, xác định Giấy chứng nhận đã cấp là đúng quy định của pháp luật thì phải thông báo lại cho cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra

(ii) Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì thông báo bằng văn bản cho cơ quan thanh tra cùng cấp thẩm tra; nếu kết luận là Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật thì thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do; sau 30 ngày kể từ ngày gửi thông báo cho người sử dụng đất mà không có đơn khiếu nại thì ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp;

(iii) Trường hợp người sử dụng đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì gửi kiến nghị, phát hiện đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm xem xét, giải quyết.

 Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây