Chủ thể của hình thức sở hữu toàn dân theo quy định pháp luật

0
344
5/5 - (6 bình chọn)

Sở hữu toàn dân là một hình thức sở hữu được quy định tại Bộ luật dân sự 2015. Vậy chủ thể của sở hữu toàn dân là ai?

Sở hữu toàn dân là gì?

Sở hữu toàn dân là một hình thức sở hữu được pháp luật dân sự quy định cụ thể tại Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) và Hiến pháp năm 2013

Chủ thể của sở hữu toàn dân là ai?

Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản thuộc chế độ sở hữu toàn dân, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản là những tư liệu sản xuất chủ yếu có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, đến an ninh, quốc phòng như quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và Điều 197 BLDS

Khác với những chủ sở hữu khác như: Công dân, pháp nhân, các đoàn thể, tổ chức xã hội… Nhà nước tham gia quan hệ quyền sở hữu với cách là chủ thể đặc biệt và là chủ thể duy nhất đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu, Nhà nước là một tổ chức đại diện cho nhân dân nắm và quản lý toàn bộ những tài sản thuộc sở hữu toàn dân, đồng thời nắm toàn bộ quyền lực chính trị. Nhà nước, thông qua Quốc hội đề xuất và tự quy định cho mình những biện pháp, hình thức, trình tự thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu của đất nước (các Nghị định, Thông tư…) quy định về quyền hạn của mình trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của toàn dân.

Việc thực hiện quyền sở hữu của Nhà nước

Nhà nước thực hiện quyền sở hữu đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu như: Đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, thềm lục địa… mà các chủ thể khác không có quyền sở hữu. Nhà nước giao tài sản cho các doanh nghiệp nhà nước, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang quyền quản lý, sử dụng đúng mục đích theo quy định của pháp luật. Khi tài sản được Nhà nước giao cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức… thì Nhà nước thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng tài sản đó.

Để thực hiện quyền sở hữu của mình, Nhà nước thành lập các cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý ở trung ương và địa phương, thành lập các doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước giao cho các cơ quan tổ chức, doanh nghiệp của Nhà nước những tài sản phù hợp với yêu cầu, chức năng của đơn vị đó để thực hiện những nhiệm vụ nhất định.

Các đơn vị hoặc cá nhân được Nhà nước giao tài sản phải sử dụng, khai thác đúng mục đích, có hiệu quả, phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Đối với tài sản thuộc sở hữu nhà nước nhưng chưa được giao cho tổ chức hoặc cá nhân quản lý như: Đất hoang, đồi trọc, thềm lục địa xa bờ, vùng kinh tế đặc quyền… thì Chính phủ tổ chức thực hiện việc bảo vệ, điều tra khảo sát và lập quy hoạch tổng thể để dần đưa vào khai thác.

Xem thêm: Đòi lại tài sản mang đi cầm cố bằng cách nào?

Hợp đồng mua bán hàng hóa cần có những điều khoản nào?
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Ngoài ra, trong phạm vi pháp luật cho phép, các cơ quan tổ chức doanh nghiệp nhà nước được thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các loại tài sản được giao. Đối với các doanh nghiệp nhà nước khi định đoạt tài sản là những thiết bị, nhà xưởng quan trọng theo quy định của Chính phủ, phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép trên nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn. Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp này không phải là chủ sở hữu đối với các loại tài sản đó mà chủ sở hữu là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo yêu cầu của chức năng và nhiệm vụ, Nhà nước con thành lập các cơ quan của Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của Nhà nước trong việc quản lý và điều hành xã hội. Khi thấy không cần thiết, Nhà nước có thể sáp nhập, chia, tách, giải thể một số trong các cơ quan đó. Việc thu hồi, thanh lý, chuyển giao các loại tài sản của cơ quan bị giải thể, chia tách hoặc sáp nhập do Nhà nước quy định. Đối với các doanh nghiệp của Nhà nước, nếu sản xuất, kinh doanh không có hiệu quả, thua lỗ nhiều… thì Nhà nước có thể tổ chức lại, giải thể, tuyên bố phá sản hay chuyển hình thức sở hữu của các doanh nghiệp đó.

Xem thêm: Đối tượng và căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  • Bài viết trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân gia đình được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  • Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  • Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây