Chuyển đơn khởi kiện trong pháp luật tố tụng dân sự - thực tiễn và kiến nghị

Bởi Trần Thu Thủy - 20/12/2019
view 495
comment-forum-solid 0
Hồ sơ nhận và xử lý đơn khởi kiện cũng có tầm quan trọng như hồ sơ của một vụ án. Tuy nhiên, do thiếu các quy định hướng dẫn đối với thủ tục chuyển đơn khởi kiện nên thực tế hiện nay, việc chuyển đơn khởi kiện đều phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của các tòa án, phạm vi bài viết dưới đây nhằm nêu ra thực tiễn trong việc áp dụng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về chuyển đơn khởi kiện và kiến nghị giải pháp.

Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về chuyển đơn khởi kiện

Thứ nhất, khi quyết định chuyển đơn khởi kiện, các Tòa án không thống nhất về hình thức văn bản được ban hành. Điển hình như: Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/8/2017 do nguyên đơn bà Nguyễn Thị O nộp tại Toà án nhân dân (TAND) tỉnh B. Bà O khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Đặng Văn G phải trả cho bà O diện tích đất là 5.000m2 và tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) do Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện B cấp cho ông G, sau khi chia tách, thành lập mới địa giới hành chính, thửa đất tranh chấp hiện nay thuộc địa phận của huyện BB. Qua xem xét đơn khởi kiện, TAND tỉnh B nhận thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện BB nên đã ra Thông báo số 25/TB-TA ngày 16/8/2017 chuyển đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đến TAND tỉnh B giải quyết.

Tương tự trường hợp trên, theo đơn khởi kiện đề ngày 19/7/2017 nộp tại TAND thị xã B, tỉnh B, bà Huỳnh Thị X khởi kiện ông Lê Nhựt M và bà Lê Thị Thanh N về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Ngày 20/7/2017, TAND thị xã B nhận đơn khởi kiện và nhận thấy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện D, tỉnh B nên đã ra Quyết định số 01/QĐ-TA ngày 20/7/2017 chuyển đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đến TAND huyện D và đồng thời ban hành Thông báo chuyển đơn khởi kiện số 63/TB-TA ngày 20/7/2017 để thông báo cho bà X được biết, nhưng giữa nội dung của quyết định và thông báo lại không có điểm gì khác nhau.

Mặt khác, nội dung quyết định chuyển đơn khởi kiện hay thông báo chuyển đơn khởi kiện mới chỉ dừng lại ở việc Toà án thông báo cho người khởi kiện được biết về việc Toà án đã chuyển đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho một Toà án khác có thẩm quyền giải quyết, mà không có nội dung thông báo cho VKS được biết về việc chuyển đơn khởi kiện. Ngoài ra, nội dung của quyết định và thông báo chưa có nội dung giải thích về lý do, căn cứ của việc chuyển đơn, cũng như chưa có các nội dung thông báo về quyền khiếu nại của đương sự, quyền kiến nghị của VKS và thời hạn khiếu nại, kiến nghị.

Thứ hai, khiếu nại, kiến nghị về việc chuyển đơn khởi kiện và giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Thực tiễn cho thấy: Theo nội dung Thông báo chuyển đơn khởi kiện số 36/TB-TA ngày 13/10/2017 của TAND tỉnh B đã ghi: “TAND tỉnh B đã chuyển đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị H đến TAND thị xã T để xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật”. Tại phần nơi nhận của thông báo nêu trên đã ghi: “Như trên (để biết liên hệ TAND thị xã T)”. Các nội dung của thông báo nêu trên được thực hiện theo biểu mẫu số 25-DS, ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, mà không hề có nội dung thông báo cho VKS, không có nội dung về quyền khiếu nại của đương sự, quyền kiến nghị của VKS. Đồng thời, nơi nhận thông báo chuyển đơn khởi kiện chỉ dừng lại ở mục đích thông báo cho người khởi kiện biết vụ án đã được chuyển đi để người khởi kiện phải liên hệ trực tiếp với Toà án nơi nhận hồ sơ chuyển đơn khởi kiện, không nhằm mục đích để cho người người kiện thực hiện quyền khiếu nại của mình.

Thứ ba, về hồ sơ chuyển đơn khởi kiện. Điển hình như: Hồ sơ khởi kiện tranh chấp ly hôn giữa bà Lê Thị Cẩm L với ông Phạm Văn C theo đơn khởi kiện đề ngày 07/7/2017 do TAND tỉnh Đ chuyển về cho TAND thị xã B, tỉnh B, chỉ gồm có: 01 Thông báo chuyển đơn khởi kiện số 34/TB-TA ngày 17/7/2017; 01 Đơn khởi kiện (bản chính); các tài liệu chứng cứ kèm theo mà nguyên đơn đã nộp. Ngoài ra, không có tài liệu, văn bản nào khác. Hoặc hồ sơ khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP T với bà Đỗ Thị N, theo đơn khởi kiện đề ngày 29/6/2017 do TAND quận T, thành phố H chuyển về cho TAND thị xã B, tỉnh B gồm có: 01 Thông báo chuyển đơn khởi kiện số 57/TB-TA ngày 08/8/2017; 01 Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện số 1712/GXN-TA ngày 27/7/2017; 01 Đơn khởi kiện (bản chính); các tài liệu chứng cứ kèm theo mà nguyên đơn đã nộp. Ngoài ra, không có thêm tài liệu, văn bản nào khác.

Luật sư tư vấn pháp luật Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn (24/7): 19006198

Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về chuyển đơn khởi kiện

Thứ nhất, cần phải có văn bản hướng dẫn cụ thể về thủ tục chuyển đơn khởi kiện để các Toà án áp dụng dưới một hình thức văn bản thống nhất. Theo đó, nên áp dụng hình thức văn bản chung là quyết định chuyển đơn khởi kiện, mà không cần áp dụng thêm văn bản Thông báo chuyển đơn khởi kiện. Vì nội dung của thông báo chuyển đơn khởi kiện hoàn toàn giống với nội dung của quyết định chuyển đơn khởi kiện. Đồng thời, cần có quy định hướng dẫn rõ quyết định chuyển đơn khởi kiện phải bao gồm đầy đủ các nội dung: “Họ tên, địa chỉ người khởi kiện và VKS cùng cấp được thông báo; lý do, căn cứ của việc chuyển đơn khởi kiện; quyền khiếu nại của đương sự, quyền kiến nghị của VKS và thời hạn khiếu nại, kiến nghị”.

Thứ hai, cần phải ban hành các quy định hướng dẫn cụ thể, bổ sung quyền khiếu nại của đương sự và kiến nghị của VKS; thẩm quyền giải quyết khiếu nại, kiến nghị đối với việc chuyển đơn khởi kiện. Có như vậy mới đảm bảo được các nguyên tắc tố tụng, đảm bảo việc kiểm sát hoạt động tố tụng và quyền lợi chính đáng của đương sự.

Thứ ba, cần có quy định hướng dẫn cụ thể đối với hồ sơ chuyển đơn khởi kiện. Hồ sơ chuyển đơn khởi kiện cần bao gồm: Đơn khởi kiện và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn giao nộp; giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện hoặc thông báo nhận đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 191 của BLTTDS năm 2015; biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn giao nộp; quyết định chuyển đơn khởi kiện kèm theo thủ tục giao nhận, tống đạt quyết định chuyển đơn khởi kiện cho VKS và người khởi kiện; 02 bản phiếu chuyển kèm theo bảng kê tài liệu, văn bản của hồ sơ chuyển đơn khởi kiện.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực hình sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.17418 sec| 1018.344 kb