Động cơ phạm tội là gì? Ví dụ về động cơ phạm tội

0
24
Đánh giá

Động cơ phạm tội là động cơ bên trong thúc đẩy người phạm tội cố ý phạm tội. Bài viết phân tích làm rõ cách hiểu quan niệm về động cơ phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự xưa và nay:

Động cơ phạm tội là gì? Ví dụ về động cơ phạm tội
Động cơ phạm tội là gì? Ví dụ về động cơ phạm tội

Động cơ phạm tội là gì?

”Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cố ý.”

Trước hết, cần phân biệt giữa ĐCPT và động cơ thực hiện hành vi. Hành vi của con người ở trạng thái tâm lý bình thường được thực hiện do sự thúc đẩy của một hoặc nhiều động cơ nhất định. Không chỉ trong trường hợp phạm tội do cố ý mà ngay cả trong trường hợp phạm tội do vô ý, hành vi của người phạm tội cũng do những động cơ nhất định. Chỉ trong một số trường hợp phạm tội cẩu thả mới có hành vi không có động cơ rõ ràng.

Tuy nhiên, trong tội vô ý, chúng ta chỉ có thể nói đến động cơ thực hiện hành vi mà chưa nói đến động cơ phạm tội vì người phạm tội do lỗi vô ý hoàn toàn không có ý muốn phạm tội, hoặc người đó không biết. rằng hành vi của anh ta là một hành vi phạm tội hoặc tin rằng hành vi của anh ta không cấu thành một hành vi phạm tội.

Trong hầu hết các trường hợp, ĐCPT không quyết định đến tính chất nguy hiểm của tội phạm, không thể làm thay đổi bản chất của tội phạm. Do đó, ĐCPT trong hầu hết các trường hợp không phải là căn cứ để phân biệt giữa tội phạm và người không phạm tội, giữa tội phạm này với tội phạm khác.

Trong những trường hợp như vậy, động cơ phạm tội không được mô tả trong cấu thành tội phạm cơ bản. Tuy nhiên, khi ĐCPT cụ thể đối với một tội phạm nhất định và là dấu hiệu để phân biệt với tội phạm khác hoặc không phải tội phạm thì cần mô tả trong cấu thành tội phạm (cơ sở) của tội phạm đó là động cơ phạm tội.

– Tình tiết, lý do bắt người phạm tội giết người do vượt quá giới hạn tự vệ hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt người phạm tội quả tang (Điều 126 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung) ) vào năm 2017); Lôi kéo nhằm trục lợi trong tội sử dụng tài sản (Điều 177 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) …

Động cơ phạm tội còn thể hiện ở cấu thành tội tăng nặng hoặc giảm nhẹ là có dấu hiệu tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt.

Ngoài ra, ĐCPT cũng có thể được coi là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi định hình phạt. Trong số các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, có nhiều tình tiết động cơ phạm tội.

Xem thêm: Thuê mua nhà ở xã hội là gì

Tại sao cần xét mục đích và động cơ phạm tội?

Mục đích phạm tội

– Khái niệm: là khuôn mẫu được hình thành trong ý thức của người phạm tội và người phạm tội mong muốn đạt được điều đó trên thực tế bằng cách thực hiện tội phạm

– Mục đích phạm tội chỉ đối với tội phạm được thực hiện với ý đồ trực tiếp. Người vi phạm trong trường hợp cố ý nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi mà mình thực hiện; Dự đoán trước hậu quả xảy ra, mong muốn phạm tội để đạt được mục đích nhất định.

Mục đích phạm tội là kết quả trong tương lai mà người phạm tội hình dung và mong muốn đạt được bằng cách thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà điều luật hình sự nghiêm cấm

– Bộ luật hình sự 2015 mục đích phạm tội là dấu hiệu của một số tội phạm nhất định (các tội an ninh quốc gia – mục đích chống chính quyền nhân dân); đa số cấu thành tội phạm; Không xác định rõ mục đích phạm tội là dấu hiệu cấu thành tội phạm.

– Về ý nghĩa xã hội và nội dung mục đích, mục đích phạm tội có thể được phân thành 3 loại: mục đích chống chính quyền; mục đích cá nhân (bao gồm cả tư lợi); các mục đích khác.

– Tội phạm nhằm mục đích phạm tội có thể chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất – mục đích phạm tội đạt được khi gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội; nhóm thứ hai – mục đích phạm tội được thể hiện bằng chính hành vi phạm tội.

Động cơ phạm tội

– Yếu tố tâm lý bên trong chủ thể thúc đẩy anh ta thực hiện hành vi là động cơ thúc đẩy hành vi.

– Động cơ phạm tội là yếu tố bên trong (lợi ích, nhu cầu nhận thức) thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm.

– Cơ sở của ĐCPT là nhu cầu vật chất và tinh thần, lợi ích sai lệch của cá nhân được chủ thể nhận thức hoặc tư tưởng sai trái của chủ thể, cũng có thể là nhu cầu bình thường mà chủ thể đã lựa chọn để thoả mãn trái với lợi ích và chuẩn mực của xã hội.

– Động cơ phạm tội chỉ tồn tại trong trường hợp cố ý phạm tội. Tội vô ý mà người phạm tội không muốn phạm tội; do đó khi thực hiện hành vi bên trong chủ thể không có ĐCPT; Tội vô ý có thể có nguyên nhân của hành động nhưng không phải là động cơ phạm tội.

Xem thêm: Chủ tịch hội đồng quản trị là gì

– Động cơ phạm tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội; nhưng không làm thay đổi tính chất nguy hiểm của hành vi. Luật hình sự quy định rằng ĐCPT là dấu hiệu của tội phạm như; (chỉ ra cấu thành tội phạm cơ bản) với số lần phạm tội ít; cũng có thể được chỉ định là các khung hình phạt như; (có dấu hiệu tăng nặng hoặc giảm nhẹ tội). Động cơ phạm tội có thể được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; hoặc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Động cơ phạm tội là gì? Ví dụ về động cơ phạm tội
Động cơ phạm tội là gì? Ví dụ về động cơ phạm tội

Ví dụ về động cơ phạm tội

Ví dụ: Động cơ đê hèn là dấu hiệu của tình tiết tăng nặng hình phạt dẫn đến định khung tăng nặng là tội giết người (điểm q khoản 1 Điều 123 BLHS).

Quyền và nghĩa vụ của phạm nhân

Quyền của phạm nhân

Phạm nhân còn được hưởng một cách hợp pháp các quyền sau đây quy định tại khoản 1 mục 27 Đạo luật Thi hành án hình sự năm 2019:

– Tính mạng, sức khoẻ, tài sản và sự tôn trọng được bảo vệ, danh dự và nhân phẩm; phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ, nội quy của trại giam;

– Bảo đảm ăn, ở, quần áo, đồ dùng cá nhân, chăm sóc y tế theo quy định; gửi, nhận thư, nhận quà, tiền; đọc sách, báo, nghe đài, xem ti vi phù hợp với điều kiện của nơi đang chấp hành án;

– Tham gia các hoạt động rèn luyện thể dục, thể thao, văn hóa, văn nghệ;

– Làm việc, học tập và học tập;

– Gặp gỡ, liên hệ với người thân, đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân; đối với tù nhân nước ngoài được phép đến thăm và thiết lập liên lạc lãnh sự;

– Tự mình hoặc thông qua người đại diện thực hiện hành vi dân sự theo quy định của pháp luật;

– Được bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo; được đặc xá và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;

– Tham gia BHXH tự nguyện, được hưởng các chế độ, chính sách BHXH theo quy định của pháp luật;

– Sử dụng kinh sách và thể hiện tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quy định của pháp luật;

– Khen thưởng cho thành tích trong khi thụ án;

– Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Xem thêm: Đặc điểm của pháp luật

Nghĩa vụ của phạm nhân

Theo quy định tại khoản 2 Mục 27 Luật Thi hành án hình sự năm 2019, phạm nhân có các nghĩa vụ sau đây:

Cơ quan thi hành án hình sự trong quá trình thi hành bản án hình sự và các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

– Tôn trọng nội quy của trại giam, tiêu chuẩn thi đua chấp hành án;

– Tuân thủ các yêu cầu, mệnh lệnh và hướng dẫn của các viên chức quản lý trại giam;

– Làm việc, học tập và học nghề theo quy định;

– Người bị tạm giữ làm hư hỏng, mất mát, hủy hoại tài sản của người khác thì phải bồi thường;

– Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.