Đại diện giữa vợ và chồng theo luật hôn nhân và gia đình

Bởi Everest Law Firm - 11/03/2024
view 0
comment-forum-solid 0
Luật Hôn nhân và gia đình quy định, vợ chồng có thể đại diện cho nhau theo pháp luật hoặc theo ủy quyền để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện.

Trên cơ sở của Bộ luật Dân sự về đại diện, Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định quyền đại diện cho nhau giữa vợ và chồng. Theo đó, vợ chồng có thể đại diện cho nhau theo pháp luật hoặc theo ủy quyền. Việc đại diện giữa vợ và chồng được hiểu là một bên vợ hoặc chồng (người đại diện) nhân danh cho bên kia (người được đại diện) để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện. 

1- Đại diện theo pháp luật 

Theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật hôn nhân và gia đình, đại diện theo pháp luật giữa vợ và chồng phát sinh khi: Một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ; khi một bên bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó; khi một bên bị Tòa án tuyên bố là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người giám hộ; khi vợ chồng kinh doanh chung hoặc đưa tài sàn chung vào kinh doanh; khi tài sản chung của vợ chồng mà giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên. Cụ thể: 

Khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người đại diện có các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ, bao gồm  quyền và nghĩa vụ chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ, đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, quản lý tài sản của người được giám hộ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Đồng thời người giám hộ còn phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định của pháp luật với tư cách là vợ hoặc chồng của người mất năng lực hành vi dân sự. Khi vợ, chồng đại diện cho bên kia theo pháp luật với tư cách là người giám hộ thì họ cũng có quyền đại diện cho bên đại diện trong các giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng. Việc thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của người được giám hộ phải có sự đồng ý của người thân thích của người được giám hộ (như cha, mẹ, con, anh, chị, em...) với tư cách là người giám sát việc giám hộ.

Ngoài ra, Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự theo quy định về giám hộ trong Bộ luật Dân sự đế giải quyết việc ly hôn trong trường hợp vợ hoặc chồng đại diện cho chồng hoặc vợ bị mất năng lực hành vi dân sự mà lại có yêu cầu ly hôn. Như vậy, bản thân người vợ hoặc chồng không thể là người đại diện cho bên kia trong vụ ly hôn. Quy định này góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên mất năng lực hành vi dân sự trong vụ ly hôn,

  • Khi một bên bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó thì phạm vi đại diện do Tòa án quyết định. Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải được người đại diện đồng ý, trừ những giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.
  • Khi vợ hoặc chồng do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án tuyên bố là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người giám hộ. Trong trường hợp này, bên giám hộ là người đại diện theo pháp luật của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Khi vợ, chồng kinh doanh chung hoặc có văn bản thỏa thuận đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người vợ hoặc người chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của chồng hoặc vợ mình trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia kinh doanh, vợ chồng đã có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Người trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đã đưa vào kinh doanh. 

Đối với tài sản chung của vợ chồng là giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng thì việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó do bên có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản thực hiện. Việc thực hiện giao dịch của một bên trong trường hợp này phải phù họp với quy định về đại diện giữa vợ và chồng. Nếu trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp có quy định của pháp luật về người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.

2- Đại diện theo ủy quyền

Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện và người được đại diện. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

Việc ủy quyền giữa vợ và chồng phải được lập thành văn bản, có chữ ký của các bên. Văn bản ủy quyền là cơ sở xác định việc có thể thực hiện được hay không các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ chồng. Quy định này đã tạo điều kiện cho vợ, chồng có thể thực hiện các giao dịch dân sự trong những trường họp một bên vì lý do nào đó không trực tiếp tham gia giao dịch khi giao dịch đó đòi hỏi phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng; hoàn toàn phù hợp với lý luận và thực tế trong các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của vợ chồng. Đồng thời, vợ hoặc chồng cũng có thể ủy quyền cho bên kia thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản riêng của mình. Người được ủy quyền (người đại diện) chỉ được thực hiện hành vi trong phạm vi được ủy quyền. Người được ủy quyền phải thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba (người đã tham gia giao dịch với người đại diện) nếu người đại diện thực hiện giao dịch vượt quá phạm vi được ủy quyền. Song phạm vi thực hiện chỉ bao gồm phần giao dịch vượt quá. Người ủy quyền (người được đại diện) không phải thực hiện nghĩa vụ đối với phần vượt quá này.

Như vậy, quyền đại diện giữa vợ và chồng được quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ chồng và ổn định giao lưu dân sự.

3- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Đại diện giữa vợ và chồng theo luật hôn nhân và gia đình được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại. 

[b] Bài viết Đại diện giữa vợ và chồng theo luật hôn nhân và gia đình có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.45722 sec| 1025.703 kb