Không đăng ký kết hôn có được hưởng di sản thừa kế?

Bởi Trần Thu Thủy - 10/04/2020
view 693
comment-forum-solid 0

Nội dung bài viết [Ẩn]

Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm.

Câu hỏi tư vấn

Tôi và chồng tôi lấy nhau được 1 năm, đám cưới có sự chứng kiến, ủng hộ của hai bên gia đình, bè bạn và cơ quan nhưng chưa đăng ký kết hôn. Chúng tôi chưa kịp sinh con thì bất ngờ vài tháng sau, chồng tôi bị tai nạn và đã mất. Sau khi chồng tôi mất không lâu, phía gia đình chồng phát sinh tranh chấp về khối tài sản chung của hai vợ chồng tôi vì họ cho rằng chỉ có mẹ chồng tôi mới là người thừa kế duy nhất của anh ấy (bố chồng tôi đã mất). Xin cho biết, trước pháp luật tôi có được thừa nhận là người thừa kế của chồng tôi không? Nếu tôi làm đơn khởi kiện tranh chấp về tài sản thì quyền lợi của tôi sẽ được giải quyết ra sao?

Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900.6198

Trả lời tư vấn

Căn cứ theo tinh thần của Mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP thì nếu:

Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết.

Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng...nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết.

Như vậy, tuy vợ chồng chị cưới nhau vào năm 2000 nhưng không đăng kí kết hôn nên theo quy định pháp luật anh chị sẽ không được công nhận là vợ chồng.

Và căn cứ tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

(i) Những người sau đây không được quyền hưởng di sản: "Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó"

(ii) Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Do đó, theo quy định pháp luật, chị không thuộc hàng thừa kế nên sẽ không được hưởng di sản thừa kế của chồng (trừ trường hợp chồng chị có để lại di chúc cho chị hưởng di sản thừa kế).

Trong trường hợp, nếu chị có yêu cầu chia tài sản chung của hai người thì tòa sẽ áp dụng quy định tại Điều 16 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 cụ thể là: “ Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”

Sau khi phân chia xong tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản của chồng chị sẽ là di sản thừa kế. Nếu chồng chị có di chúc để lại và di chúc này hợp pháp sẽ phân chia theo di chúc đó. Còn nếu không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp thì di sản thừa kế để lại sẽ được phân chia theo pháp luật. Theo đó, những người ở hàng thừa kế thứ nhất là mẹ chồng của chị, con của chị sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau và bằng ½ di sản thừa kế mà chồng chị để lại theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1.  Bài viết trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân gia đình được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.31495 sec| 992.188 kb