Người chết chết không để lại di chúc thì ai được hưởng di sản thừa kế?

0
84
Đánh giá

Hẳn có rất nhiều bạn đang thắc mắc về vấn đề thừa kế theo di chúc, quyền thừa kế khi người mất không để lại di chúc, tại bài viết dưới đây Luật sư của chúng tôi hỗ trợ pháp luật dân sự và các vấn đề pháp lý liên quan đến phân chia tài sản thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật hiện hành:

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Người chết không để lại di chúc thì ai có quyền hưởng di sản?

Luật sư ơi tôi muốn nhờ luật sư tư vấn về quyền chuyển nhượng đất. Có 5 người trong một gia đình: bố mẹ và 3 người con. Nhưng bố anh đã mất trước khi mất anh không để lại di chúc hay ất cứ thứ gì liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản.
Vậy trong trường hợp này ai là người thụ hưởng nếu mẹ có quyền hưởng và đứng tên nếu mẹ vay ngân hàng? Gia đình họ muốn vay vốn ngân hàng thì phải làm thủ tục chuyển nhượng như thế nào cho nhanh nhất?
Xin cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Theo dữ liệu ạn cung cấp thì bố mất không để lại di chúc nhưng bạn không nói rõ là bố mất khi nào nên chúng tôi sẽ trao đổi với bạn như sau:

Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Như vậy:

Nếu thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản vẫn còn:

Điểm 2.Mục I Nghị quyết 02/2004NQHĐTP quy định:

“2.. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn ản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân iệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trong trường hợp người chết để lại di sản cho những người thừa kế nhưng người thừa kế không trực tiếp quản lý sử dụng mà di sản đó thuộc sở hữu trái pháp luật của người khác hoặc thuê mượn quản lý theo giấy phép … thì những người thừa kế có quyền khởi kiện. kia.”

Như vậy theo phân tích ở trên thì những người đồng thừa kế ở hàng thứ nhất là những người được hưởng di sản thừa kế do ông cha để lại. Nếu gia đình có nhu cầu vay vốn ngân hàng thì phải đồng ý của tất cả các đồng thừa kế trên tuy nhiên nếu các đồng thừa kế có thỏa thuận khác hoặc có văn bản từ chối nhận di sản thừa kế và để lại phần tài sản này cho mẹ. mẹ sẽ có quyền sử dụng mảnh đất này. Và khi người mẹ có quyền sử dụng mảnh đất này thì người mẹ hoàn toàn có quyền thực hiện thủ tục vay vốn ngân hàng mà không cần phải có sự đồng ý của những đồng thừa kế trên.

Theo quy định của pháp luật thì di sản của ố sẽ được chia theo pháp luật và giữa những người thừa kế. Điểm a khoản 1 Điều 650 và Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;…

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Có được hưởng di sản thừa kế của ông bà để lại không?

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Xin chào luật sư cho tôi hỏi: Ông bà tôi có một căn nhà ông tôi mất bà còn sống. Tôi và anh trai tôi đã sống với cô ấy trong ngôi nhà này từ đó đến nay (bố tôi mất sau khi cô ấy qua đời). Nay cả hai quay lại đòi bán căn nhà này để chia đôi số tiền án được.
Vậy tôi có quyền gì trong việc này không?
Xin cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Mục 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc giải quyết tài sản của vợ chồng khi một bên chết như sau:

1. Trường hợp một trong hai bên vợ chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên án. bị tuyên ố là đã chết thì ên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng trừ trường hợp di chúc chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người được thừa kế đồng ý cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu chia thừa kế thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận về chế độ phụ hệ. Phần tài sản của vợ hoặc chồng đã chết hoặc bị Tòa án tuyên ố là đã chết được phân chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Theo đó căn nhà của ông à nội ạn là tài sản chung của ông à nên khi ông chết à sẽ là người quản lý tài sản chung đó và trường hợp này không có di chúc và những người thừa kế khác cũng không chỉ định người nào khác quản lý di sản. Nay hai cô của ạn (tức con đẻ của ông bà bạn) về đòi án căn nhà để chia số tiền án được thì theo quy định việc này sẽ được giải quyết theo quy định về pháp luật thừa kế.

Đối với tài sản là căn nhà chung của ông bà thì hai cô của bạn chỉ có quyền yêu cầu chia di sản đối với phần tài của ông trong khối tài sản chung đó mà không có quyền đối với cả căn nhà. Vì căn nhà là tài sản chung của ông bà nên theo nguyên tắc tài sản này sẽ được chia đôi sau đó phần tài sản của ông sẽ tiếp tục được chia thừa kế theo pháp luật về thừa kế.

Xem thêm: Thừa kế tài sản của cha mẹ

Xác định người thừa kế đối với phần di sản của ông nội bạn:

Thừa kế theo hàng thừa kế: Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thừa kế theo pháp luật theo hàng thừa kế như sau:

Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ chồng cha đẻ mẹ đẻ cha nuôi mẹ nuôi con đẻ con nuôi của người chết;

Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội à nội ông ngoại bà ngoại anh ruột chị ruột em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội à nội ông ngoại à ngoại;

Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội cụ ngoại của người chết; bác ruột chú ruột cậu ruột cô ruột dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột chú ruột cậu ruột cô ruột dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội cụ ngoại.

Những người thừa kế theo pháp luật cùng hạng được hưởng một phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế chỉ có quyền hưởng di sản nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước vì họ đã chết không có quyền hưởng di sản bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. tài sản.

Theo quy định trên thì hàng thừa kế thứ nhất của ông nội bạn gồm: vợ (bà nội bạn); các con ruột của ông (hai dì của bạn). Bạn thuộc hàng thừa kế thứ hai và do hàng thừa kế thứ nhất vẫn còn những người thừa kế còn sống nên bạn không thuộc diện được hưởng thừa kế theo pháp luật theo hàng thừa kế của người đã mất.

Con ngoài giá thú có được hưởng di sản thừa kế không?

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Thưa luật sư tôi có vấn đề cần tư vấn như sau:

Tôi và chồng kết hôn được hơn 10 năm nhưng cách đây 1 năm chồng tôi mất. Gần đây một người phụ nữ dẫn theo một bé trai 7 tuổi đến nói rằng cháu là con của chồng tôi và đòi chia tài sản thừa kế từ é trai này.
Tôi chưa ao giờ iết đến sự tồn tại của người phụ nữ này và đứa trẻ này. Giờ tôi rất ối rối xin hỏi luật sư tôi có nên chia di sản thừa kế của chồng tôi cho đứa con ngoài giá thú này không?
Cảm ơn!

Trả lời:

Do trong câu hỏi bạn không nói rõ chồng bạn mất có để lại di chúc hay không nên chúng tôi xin đưa ra hai trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Chồng bạn không để lại di chúc

Pháp luật dân sự không phân biệt quyền thừa kế theo pháp luật của con trong giá thú hay ngoài giá thú đối với di sản của cha. Vì vậy nếu người phụ nữ kia có đầy đủ chứng cứ để chứng minh đứa trẻ đó là con của người chồng đã mất của bạn thì đứa trẻ này sẽ được pháp luật bảo vệ quyền được hưởng thừa kế. Khi đó đứa trẻ đó được coi là con đẻ của chồng bạn.

Do chồng bạn đã mất và không để lại di chúc nên phần tài sản thuộc quyền sở hữu của chồng bạn sẽ được chia thừa kế theo pháp luật. Pháp luật dân sự quy định về trường hợp khi người chết không để lại di chúc như sau:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;”

Như vậy đứa trẻ là con của chồng bạn sẽ trở thành những người thừa kế theo pháp luật và được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật dân sự quy định của về thừa kế. Pháp luật quy định thứ tự ưu tiên trong trường hợp được thừa kế theo pháp luật như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 về thừa kế theo pháp luật thì người con này thuộc hàng thứ nhất. . Những người ở hàng thừa kế chỉ có quyền hưởng di sản nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước vì họ đã chết không có quyền hưởng di sản bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. tài sản. Theo luật những người thừa kế cùng hạng được hưởng một phần di sản bằng nhau.

Vì vậy cần có chứng cứ để chứng minh đứa trẻ kia có phải là con đẻ của chồng ạn hay không. Để thực hiện việc xác minh này bạn có thể thực hiện xét nghiệm ADN để xác minh dòng dõi giữa hai bạn. Nếu người con này đúng là con đẻ của người chồng mất bạn thì di sản thừa kế theo pháp luật sẽ được chia theo pháp luật.

Trường hợp 2: Chồng ạn để lại di chúc

Di chúc là sự thể hiện nguyện vọng của một cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo quy định tại Điều 626 BLDS 2015 người lập di chúc có các quyền sau đây:

Chỉ định người thừa kế; tước quyền hưởng di sản của người thừa kế.

Phân chia di sản cho từng người thừa kế.

Dành một phần tài sản của khối di sản để làm di sản và thờ cúng.

Chuyển nhượng trái phiếu cho những người thừa kế.

Chỉ định người lập di chúc người quản lý di sản và phân phối di sản.

Bạn cần kiểm tra xem chồng bạn có để lại di chúc hay không. Nếu chồng ạn để lại di chúc và có tên con trong di chúc thì con sẽ được nhận phần di sản tương ứng với phần di chúc.

Nếu chồng bạn để lại di chúc nhưng không có tên con hoặc chồng bạn ghi trong di chúc là không để lại di sản thừa kế cho người con này thì người con này vẫn được hưởng di sản thừa kế. Pháp luật dân sự quy định các trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào di chúc như sau:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động”.

Do ạn cho iết cháu é kia mới 7 tuổi nên cháu é này được coi là con chưa thành niên của gia đình ạn. Vì người con này là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nên dù chồng ạn có viết di chúc không để lại di sản cho con thì người con đó vẫn được hưởng ít nhất 23 phần di sản thừa kế theo pháp luật.

Do đó nếu có đủ căn cứ chứng minh quan hệ cha con giữa chồng ạn và người con kia thì người con đó vẫn được pháp luật ảo vệ quyền thừa kế. Như vậy người con này luôn được hưởng di sản thừa kế bằng 23 của người thừa kế theo pháp luật không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Xem thêm: Thừa kế tài sản theo di chúc

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.