Đặc điểm chung của hợp đồng mua bán hàng hóa

0
105
Đánh giá

Hợp đồng mua bán hàng hóa là loại hợp đồng phổ biến trong xã hội. Vì vậy, trong quá trình mua hàng hóa, bất cứ ai cũng có thể trở thành chủ thể trong quan hệ mua bán. Loại hợp đồng này còn được quy định bằng trong Luật Thương mại năm 2005. Bài viết dưới đây sẽ giúp người đọc tìm hiểu quy định về đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại.

Hợp đồng mua bán
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật nêu trên, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Hợp đồng mua bán hàng hóa là gì?

Điều 3 Luật Thương mại năm 2005:

“Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.”

Hợp đồng mua bán hàng hóa điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa giữa các bên. Đây là một trong những loại hợp đồng thương mại. Về lý luận, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một loại hợp đồng mua bán tài sản.

Do đó, hợp đồng mua bán hàng hóa mang những đặc trưng của hợp đồng mua bán tài sản. Đó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán.

Xem thêm thông tin liên quan tại: Trình tự giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa

Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa

Đối tượng là hàng hóa

Tương tự như hợp đồng mua bán trong Bộ luật Dân sự năm  2015, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa.

Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định:

“Hàng hóa bao gồm:

a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

b) Những vật gắn liền với đất đai”.

Hàng hóa trong hợp đồng thương mại có thể hướng đến việc giao và nhận hàng hóa ở một thời điểm trong tương lai. Đối tượng của hợp đồng mua bán chỉ là động sản và những vật gắn liền với đất đai. Đối tượng hàng hóa trong thương mại hẹp hơn đối tượng tài sản được phép giao dịch trong dân sự. 

Nhằm mục đích sinh lợi

VIệc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa để mỗi bên đạt được mục đích của mình. Một bên có được hàng và một bên có được tiền. Do đó, đối với bên bán hàng, mục đích của các bên trong mua bán hàng hóa là nhằm sinh lợi. Nó cũng gắn liền với đặc điểm về chủ thể là một bên bắt buộc là thương nhân, bởi hoạt động của thương nhân cũng nhằm mục đích là kiếm tiền. 

Trường hợp một bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa không nhằm mục đích sinh lợi, về nguyên tắc thì nó không chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại.

Có tính đền bù

Bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua; thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương. Lợi ích này tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận. Thông thường, giá trị sẽ được tính bằng khoản thanh toán.

Hợp đồng song vụ

Mỗi bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia. Đồng thời là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong hợp đồng trên tồn tại hai nghĩa vụ chính. Hai nghĩa vụ này mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau:

  • Nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua;
  • Nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán.

Chủ thể chủ yếu là thương nhân

Luật thương mại 2005 quy định thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mai một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng trên nhưng phải tuân theo Luật thương mại khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật thương mại.

Hình thức hợp đồng

Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện và ghi nhận ý chí của các bên trong việc giao kết hợp đồng.

Hợp đồng trên có thể được thể hiện dưới hình thức:

  • Lời nói;
  • Văn bản (văn bản giấy; fax; telex; văn bản điện tử khác; …);
  • Bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết. 

Trong phần lớn các trường hợp, luật cho phép các bên tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng mua bán. Tuy nhiên, nếu trường hợp hàng hóa là mặt hàng cần đăng ký quyền sở hữu thì phải được lập bằng văn bản và có công chứng, chứng thực. Một trong những ví dụ của hợp đồng phải lập bằng văn bản có công chứng chứng thực là mua ô tô. Vì vậy, cần tìm hiểu kỹ các quy định về hình thức hợp đồng mua bán. Nếu pháp luật quy định được thành lập bằng văn bản thì hợp đồng phải tuân theo quy định đó. 

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.