Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

0
591
4.9/5 - (10 bình chọn)

Trong nhiều năm trở lại đây, sự phát triển của các doanh nghiệp vốn đâu tư nước ngoài được xem như nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế, xã hội của Việt Nam. Chủ thể này được thành lập và hoạt động nhiều ở nước ta sau khi Đảng và Nhà nước xây dựng và thực thi đường lôi đôi mới khuyến khích thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đâu tư vào Việt Nam.

Luật sư tư vấn pháp luật Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 19006198

Khái niệm 

Để tham gia hoạt động đầu tư ở Việt Nam, họ có thể lựa chọn nhiều cách thức, một trong sổ đó có hình thức thành lập tổ chức kinh tế hoặc góp vổn, mua cổ phần vào một tổ chức kinh tế ở Việt Nam để hình thành nên các doanh nghiệp có vốn nước ngoài.

Văn bản pháp luật đầu tiên ở Việt Nam chính thức ghi nhận và khẳng định vị trí pháp lý của doanh nghiệp có vốn nước ngoài đó là Luât Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sô 4-HĐNN8 của Quôc hội ban hanh ngày 29/12/1987. Thời điểm đó doanh nghiệp có vốn nước ngoài đước biết đến với tên gọi xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo quy định tại Điều 2 của luật này:

“Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” gồm xí nghiệp liên doanh và xí nghiệp 100% vốn nước ngoài”. Trong đó “Xí nghiệp liên doanh” la XI nghiệp do Bên nước ngoài và Bên Việt Nam hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở họp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nước ngoài. Và “Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài” là xí nghiệp do các tô chức, cá nhân nước ngoài đầu tư 100% vốn và được Chính phủ Việt Nam cho phép thành lập tại Việt Nam.

Hiện nay, Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực ngày 01/07/2015 lại không trực tiếp đưa ra khái niệm về doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài mà đưa ra khái niệm về tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo khoản 17 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014: “Tổ chức kinh tế có vôn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”. Tại khoản 16 Điều 3 của Luật này thì nêu. “Tổ chức kinh tể là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp Ịiơp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đâu tư kinh doanh”. Từ hai quy định này chúng ta có thể hiểu rằng: Doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp có nhà đâu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.

Có thể thấy qua mỗi một giai đoạn phát triển, pháp Luật Đầu tư và các lĩnh vực có liên quan lại có góc độ tiêp cận khác nhau và đưa ra cách hiểu khác nhau về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nhưng tựu chung lại, các nhà làm luật vẫn nhấn mạnh đến việc tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài và việc sở hữu vôn của họ, trong một doanh nghiệp tại Việt Nam, đây là yếu tổ quan trọng để hình thành nên doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Đặc điểm

Về chủ đầu tư

Một doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài bắt buộc phải có sự có mặt của nhà đầu tư nước ngoài với tư cách là chủ sở hữu hoặc đông chủ sở hữu của doanh nghiệp. Nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là các cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức được thành lập ở nước ngoài, họ chịu sự chi phối lớn của quốc gia mà họ mang quôc tịch. Nhưng khi thực hiện đầu tư vào một tổ chức kinh tế ở Việt Nam, cụ thê là doanh nghiệp có vổn nước ngoài, thì các nhà đầu tư nước ngoài này phải đáp ứng được các điều kiện về chủ thể kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam. Theo đó, các nhà đầu tư nước ngoài này phải không thuộc vào các trường hợp bị cấm thành lập, góp vốn, mua cổ phần, quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp và các văn bản pháp luật có liên quan.

Về hình thức tổ chức

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phải được tổ chức dưới các hình thức doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, ở Việt Nam có bốn hình thức doanh nghiệp là: Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Trước đây, khi các doanh nghiệp còn chịu sự điều chỉnh của hệ thống quy định pháp luật riêng, tách bạch so với các nhà đầu tư trong nước thì hình thức tổ chức của loại doanh nghiệp này do các nhà làm luật định sẵn. Với quan điểm hạn chế rủi ro một cách tối ưu cho các nhà đầu tư nước ngoài và cũng để phục vụ cho mục đích thu hút các nhà đầu tư nước ngoài cùng với việc đảm bảo yêu cầu quản lý lúc bấy giờ, pháp luật quy định doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài chỉ tồn tại ở hai hình thức đó là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.

Tuy nhiên, hiện nay khi chúng ta xây dựng sân chơi chung, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư, thì pháp luật không còn ấn định hình thức tổ chức riêng cho doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài. Cũng giống như các nhà đầu tư trong nước, các nhà đầu tư nước ngoài có quyền lựa chọn một loại hình doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu của mình để thực hiện hoạt động kinh doanh ở Việt Nam

Về tư cách pháp lý

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà họ đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam. Trừ trường hợp nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn loại hình doanh nghiệp tư nhân (không có tư cách pháp nhân), các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài thành lập theo các hình thức công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh đều có tư cách pháp nhân.

Trong quan hệ kinh doanh thương mại, yếu tố được đặc biệt chú trọng đó chính là sự độc lập về mặt tài sản. Với yếu tố này doanh nghiệp mới có thể hạn chế được rủi ro và có thê mở rộng hoạt động của mình thông qua một số những quan hệ đặc thù như: góp vốn, mua cố phần của các tổ chức kinh tế khác.

Về trách nhiệm tài sản

Trách nhiệm tài sản được hiểu là sự phân chia trách nhiệm đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác của doanh nghiệp, chỉ được đặt ra khi doanh nghiệp đó phá sản hoặc giải thể. Đối với doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài thành lập dưới hình thức doanh n§hiệp tư nhân, chủ sở hữu của doanh nghiệp chi’ có thể là một cá nhân có quốc tịch nước ngoài. Do không có sự phân tách về mặt tài San giữa chủ sở hữu và doanh nghiệp nên chủ sở hữu doanh nghiệp có y°n đâu tư nước ngoài trong trường hợp này sẽ phải chịu trách nhiệm bàng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp, hoàn toàn không có sự phân định xem tài sản đó có đưa vào kinh doanh hay không.

Đối với doanh nghiệp vốn đâu tư nước ngoài thành lập dưới hình thức la các loại hình công ty (có sự tham gia của nhiều cá nhân, tổ chức), do có tư cách pháp nhân, nên trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp có vôn nước ngoài trong trường hợp này được phân tách rõ ràng thành: trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp và trách nhiệm tài sản của các nhà đâu tư là thành viên hoặc cổ đông của doanh nghiệp đó.

Về mặt nguyên tắc

Doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác bằng toàn bộ vốn và tài sản của doanh nghiệp Còn đối với các nhà đầu tư, trong đó có nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định tương ứng đối với hình thức tổ chức của doanh nghiệp.

Xem thêm: 

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây