Hệ quả pháp lý của việc nhận nuôi con nuôi giữa cha dượng, mẹ kế với con

Bởi Trần Thu Thủy - 03/01/2020
view 828
comment-forum-solid 0
 

Kể từ thời điểm đăng kí nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi, cha dượng hoặc mẹ kế đó sẽ có các quyền và nghĩa vụ đối với con như chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, là người đại diện theo pháp luật cho con chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự…đồng thời con nuôi cũng phải có bổn phận yêu quý, kính trọng, chăm sóc cha mẹ nuôi. Cha mẹ và con nuôi có quyền hưởng di sản thừa kế của nhau theo các quy định của pháp luật về thừa kế.

Quan hệ giữa người nuôi và người được nhận nuôi

Theo Khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định: “1.Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật khác có liên quan.”…

Theo đó, kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ với nhau theo quy định của pháp luật.

  1. Quyền thay đổi một số nội dung trong giấy khai sinh của con

Theo quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010  quy định:...“2.Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi. Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó. Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc củ cha nuôi, mẹ nuôi.”

Họ, tên, dân tộc của con nuôi. Trên nguyên tắc, việc nuôi con nuôi không đương nhiên có tác dụng thay đổi họ của con nuôi theo họ của người nuôi. Theo khoản 2 Điều 28 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, cha mẹ nuôi có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (tức Ủy ban Nhân dân) quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi. Tuy nhiên, nếu con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên, thì việc thay đổi họ, tên phải được sự đồng ý của người đó. Suy lý ngược: 1. Nếu con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên không đồng ý việc thay đổi họ, tên của mình, thì con nuôi mang họ, tên cũ; 2. Việc thay đổi họ, tên của con nuôi mất năng lực hành vi chỉ cần có sự đồng ý và yêu cầu của cha, mẹ nuôi.

Đối với trẻ em được nhận nuôi là trẻ em bị bỏ rơi thì dân tộc được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi. Như vậy, nếu cha mẹ nuôi là dân tộc kinh thì con nuôi cũng là dân tộc kinh.

2. Quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng của cha mẹ nuôi với con nuôi.

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 24 theo đó, cha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội…Con cái có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng với con đã làm con nuôi.

3. Quyền thừa kế tài sản giữa cha mẹ nuôi với con nuôi

Trong trường hợp cha mẹ nuôi chết, con nuôi là người thừa kế được gọi theo pháp luật ở hàng thứ nhất (Bộ luật Dân sự 2015 Điều 651 khoản 1 điểm a); ngược lại, nếu con nuôi chết, thì cha mẹ nuôi là người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của con nuôi, bên cạnh cha mẹ ruột của con nuôi (cùng điều luật).Theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế

Luật sư tư vấn pháp luật Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn (24/7): 19006198

Quan hệ giữa người được nhận nuôi với những thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi.

Quan hệ cha mẹ nuôi-con nuôi. Kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi, người được nuôi trở thành con nuôi của người nuôi và gọi người sau này là cha (mẹ) nuôi. Theo đó, quan hệ giữa người được nuôi và các thành viên khác trong gia đình của người nhận nuôi có các quyền và nghĩa vụ với nhau theo quy định tại Chương VI, các Điều 103, 104, 105, 106 Luật Hôn nhân gia đình 2014 . Từ đó thể thấy giữa con nuôi với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi cũng có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giống như con đẻ. Đây là một điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Quan hệ giữa người được nhận nuôi với gia đình cha mẹ đẻ.

Theo quy định tại Luật Hôn nhận gia đình 2014 thì quyền và nghĩa vụ của con nuôi với cha mẹ đẻ khi làm con nuôi với cha dượng mẹ kế quy định cụ thể tại các Điều 68, 70, 71 Luật này, theo đó luật không quy định cụ thể con nuôi hay con đẻ mà quy định một cách chung nhất, không phân biệt quan hệ giữa cha mẹ đẻ với cha mẹ kế mà con vẫn phải có tất cả các nghĩa vụ với cha mẹ kế như với cha mẹ đẻ không phân biệt đối xử với nhau.

  1. Quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi

Theo khoản 4 điều 24 Luật nuôi con nuôi thì: “Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi”.

2. Quyền thừa kế trong gia đình cha mẹ đẻ

Quyền thừa kế. Theo Bộ luật Dân sự 2015 Điều 651, con nuôi bảo tồn quyền thừa kế đối với di sản của những người thân thuộc do huyết thống: con nuôi là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thứ nhất của cha mẹ ruột, là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thứ hai của anh, chị, em ruột, là người thừa kế thế vị của cha mẹ ruột trong di sản của ông bà nội (ngoại)...

3. Quyền xác định dân tộc của người được nhận nuôi

Theo quy định tại Luật nuôi con nuôi 2010 thì việc xác định dân tộc không được quy định rõ nhưng tại khoản 3 điều 24 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định

“3.Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.”

Như vậy luật chỉ quy định việc thay đổi dân tộc với trẻ em bị bỏ rơi còn việc xác định dân tộc của người được  nhận nuôi ta có thể hiểu rằng nó mặc nhiên được xác định theo dân tộc của cha mẹ đẻ.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

 

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.15509 sec| 1018.227 kb