Ký quỹ, biện pháp bảo đảm trong nghĩa vụ dân sự

0
105
Đánh giá

Ký quỹ là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Hiện nay biện pháp bảo đảm này đang được thực hiện phổ biến trong các giao dịch dân sự.

Ký quỹ, biện pháp bảo đảm trong nghĩa vụ dân sự
Luật sư tập sự Nguyễn Thị Mai – Công ty Luật TNHH Everest, Tổng đài tư vấn: 1900.6198

Ký quỹ là gì?

Khái niệm ký quỹ được quy định tại Khoản 1 Điều 330 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ trong giao dịch dân sự gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá của mình vào một tài khoản được phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc họ sẽ thực hiện nghĩa vụ đối với bên còn lại.

Xem thêm bài viết về quy định đặt cọc: Các vấn đề pháp lý về đặt cọc

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong ký quỹ

Tổ chức tín dụng nơi ký quỹ

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, tổ chức tín dụng nơi ký quỹ có các quyền và nghĩa vụ sau:  

Thứ nhất, tổ chức tín dụng nơi ký quỹ được quyền hưởng phí dịch vụ.

Thứ hai, tổ chức tín dụng nơi ký quỹ có quyền được yêu cầu bên có quyền trong việc ký quỹ thực hiện đúng thỏa thuận về ký quỹ. Quy định này nhằm đảm bảo việc thanh toán nghĩa vụ từ tiền ký quỹ.

Thứ ba, tổ chức tín dụng nơi ký quỹ phải thanh toán nghĩa vụ theo yêu cầu của bên có quyền ở giao dịch dân sự trong phạm vi tiền ký quỹ.

Thứ tư, tổ chức tín dụng nơi ký quỹ có phải hoàn trả lại tiền ký quỹ còn lại cho bên ký quỹ sau khi bên có quyền yêu cầu thanh toán nghĩa vụ và khi chấm dứt việc ký quỹ tại tổ chức tín dụng.

Bên ký quỹ

Theo quy định của pháp luật hiện hành, bên ký quỹ có các quyền và nghĩa vụ sau:

Thứ nhất, bên ký quỹ có quyền thỏa thuận với bên tổ chức tín dụng nơi ký quỹ về các điều kiện thanh toán mà bên ký quỹ đã cam kết với bên có quyền.

Thứ hai, bên ký quỹ có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng nơi ký quỹ phải hoàn trả tiền ký quỹ cho họ theo quy định; bên ký quỹ chỉ được trả lãi khi giữa họ và tổ chức tín dụng nơi ký quỹ có thỏa thuận trong hợp đồng.

Thứ ba, bên ký quỹ có quyền rút bớt hoặc bổ sung tiền ký quỹ hoặc đưa tiền ký quỹ tham gia giao dịch dân sự khi bên có quyền đồng ý.

Thứ tư, bên ký quỹ có nghĩa vụ nộp đầy đủ tiền ký quỹ đã cam kết cho tổ chức tín dụng nơi ký quỹ.

Bên có quyền trong ký quỹ

Theo quy định của pháp luật hiện hành, bên có quyền trong ký quỹ có các quyền và nghĩa vụ sau:

Thứ nhất, bên có quyền trong ký quỹ được quyền yêu cầu tổ chức tín dụng mà bên ký quỹ lựa chọn ký quỹ thanh toán đầy đủ và đúng hạn nghĩa vụ của họ trong phạm vi tiền ký quỹ.

Thứ hai, bên có quyền trong ký quỹ có nghĩa vụ đối với tổ chức tín dụng nơi ký quỹ như sau: thực hiện đúng thủ tục theo yêu cầu của tổ chức trong việc thực hiện quyền của mình.

Tìm hiểm các thông tin khác về ký cược: Kí cược

Việc gửi, thanh toán tiền ký quỹ được thực hiện như thế nào

Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 29/2018/TT-NHNN có quy định về vấn đề nộp tiền ký quỹ như sau: Khi có nhu cầu ký quỹ tại ngân hàng nhận ký quỹ, doanh nghiệp và ngân hàng nhận ký quỹ thực hiện giao kết hợp đồng ký quỹ.

Theo quy định của pháp luật, hợp đồng ký quỹ bao gồm các nội dung chính sau: Tên, địa chỉ, người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp ký quỹ; Tên, địa chỉ, người đại diện hợp pháp của ngân hàng (hoặc chi nhánh) nhận ký quỹ; số tiền mà doanh nghiệp ký quỹ; Mục đích ký quỹ của doanh nghiệp; Lãi suất tiền gửi ký quỹ của doanh nghiệp (nếu có); Hình thức trả lãi tiền ký quỹ cho doanh nghiệp (nếu có); Sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp; Doanh nghiệp rút tiền ký quỹ; Tất toán tài khoản ký quỹ cho doanh nghiệp; Trách nhiệm của các bên liên quan và các nội dung khác do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.

Có được rút tiền ký quỹ không

Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 29/2018/TT-NHNN có quy định: Khi có nhu cầu rút tiền ký quỹ theo các căn cứ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Nghị định số 40/2018/NĐ-CP, doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp thông báo về việc trả lại hồ sơ của Bộ Công Thương đối với trường hợp Bộ Công thương từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp của doanh nghiệp; hoặc văn bản khác của Bộ Công Thương có nội dung chấp thuận cho doanh nghiệp của họ rút tiền ký quỹ tại tổ chức tín dụng do doanh nghiệp chấm dứt hoạt động bán hàng đa cấp hoặc doanh nghiệp đó đã thực hiện ký quỹ tại một ngân hàng hoặc chi nhánh ngân hàng khác

Như vậy có thể rút được tiền ký quỹ nhưng kèm theo các điều kiện rất khắt khe.

Xem thêm các nội dung liên quan khác tại Pháp trị – Chia sẻ kiến thức pháp lý

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn