Nguồn của luật hành chính là gì? Phân loại nguồn luật hành chính

0
44
Đánh giá

Nguồn của luật hành chính là gì? Phân loại nguồn của luật hành chính? Nguồn của quy phạm pháp luật hành chính là các văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật hành chính.

Nguồn của luật hành chính là gì? Phân loại nguồn luật hành chính
Nguồn của luật hành chính là gì? Phân loại nguồn luật hành chính

Nguồn của luật hành chính là gì?

Nguồn của luật hành chính Việt Nam chỉ có một hình thức duy nhất là văn bản quy phạm pháp luật (QPPL). Là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự do pháp luật quy định, bao gồm những quy tắc xử sự chung, được nhà nước bảo đảm để điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với pháp luật, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chỉ có văn bản quy phạm pháp luật mới tạo ra những tiền đề cần thiết cho việc thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa – một trong những nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước. Tính chặt chẽ và tính ổn định tương đối của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật phải xác định rõ cơ cấu, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước các cấp. Mối quan hệ công tác chủ yếu giữa chúng nhằm đảm bảo cho các hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước được tiến hành đồng bộ. , hướng tới việc hoàn thành nhiệm vụ được giao phó đối với bộ máy Nhà nước nói chung và từng cơ quan Nhà nước nói riêng.

Tuy nhiên, mọi văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật hành chính – các quy phạm được ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ quản lý hành chính nhà nước đều không được coi là nguồn của quy phạm pháp luật hành chính. . Nguồn của quy phạm pháp luật hành chính là các văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật hành chính. Một văn bản được coi là nguồn của quy phạm pháp luật hành chính nếu nó đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu sau:

– Do cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

– Văn bản được ban hành đúng trình tự, thủ tục, hình thức theo quy định của pháp luật. Nội dung của văn bản này có các quy phạm pháp luật hành chính.

Phân loại nguồn của luật hành chính

Căn cứ vào đối tượng ban hành, nguồn của luật hành chính bao gồm:

Hiến pháp:

là đạo luật nền tảng quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng liên quan đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá.- Xã hội quốc gia. Hiến pháp là nguồn của mọi luật, trong đó có luật hành chính. Quy phạm pháp luật hành chính của Hiến pháp là những quy phạm, nguyên tắc chung làm cơ sở cho việc ban hành các quy phạm pháp luật hành chính khác.

Có các văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật hành chính như luật tổ chức chính quyền; Luật Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Đạo luật Khiếu nại và Tố cáo; Luật đất đai… Đây là một bộ phận quan trọng của nguồn luật hành chính. Ngược lại, cũng có những luật không có các chuẩn mực quy phạm pháp luật hành chính nên không phải là nguồn của luật hành chính Việt Nam. Ví dụ: Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự,…

xem thêm: nhà nước xã hội chủ nghĩa 

Luật là hình thức thực hiện quyền lực nhà nước cao nhất không chỉ vì nó có hiệu lực pháp lý mà còn vì sự uỷ quyền của cơ quan pháp luật – luật do đại biểu dân cử đưa ra. chúng tôi.

Loại văn bản quy phạm pháp luật này có hai đặc điểm: do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành và có hiệu lực pháp lý vượt trội so với tất cả các văn bản quy phạm pháp luật khác. Vị trí cao nhất của pháp luật thể hiện ở chỗ Quốc hội khóa mới có quyền thông qua, sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ luật. Mặt khác, mọi văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành đều phải có nội dung hợp pháp và thực thi pháp luật.

Nghị quyết của Quốc hội:

Là văn bản được ban hành để “quyết định kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, tôn giáo, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, dự báo ngân sách nhà nước và ngân sách nhà nước phân bổ, điều chỉnh ngân sách nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, phê chuẩn điều ước quốc tế, quyết định chế độ lao động của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban Quốc hội, của đại biểu Quốc hội và quyết định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội ”(Điều 20 của luật ban hành văn bản quy định về thi hành luật và điều lệ).

xem thêm: vị trí pháp lý của chính phủ

Pháp lệnh:

Là văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành “Quy định những vấn đề Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện thì trình Quốc hội xem xét, quyết định với sự đồng ý của Hội đồng Quốc gia”. Hội trong luật ”(điều 21 luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật). Như vậy, pháp lệnh điều chỉnh những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật. Nhưng trong điều kiện chưa có điều kiện để ban hành luật, Quốc hội đã chỉ đạo Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh để đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của đời sống xã hội. Pháp lệnh có hiệu lực pháp lý không thua kém luật, nó cũng là văn bản dưới luật. Pháp lệnh có quy phạm pháp luật hành chính là nguồn của quy phạm pháp luật hành chính

Nguồn của luật hành chính là gì? Phân loại nguồn luật hành chính
Nguồn của luật hành chính là gì? Phân loại nguồn luật hành chính

Nghị định của chính phủ:

Nghị định của chính phủ được sử dụng như văn bản quy phạm pháp luật hành chính và văn bản quy phạm pháp luật. Là văn bản quy phạm pháp luật, nghị định của Chính phủ được dùng để quy định chi tiết việc thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ được thành lập; quy định những vấn đề thật cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật, pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội (việc ban hành nghị định trong trường hợp này) phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cuộc họp). Tất cả các nghị định của Chính phủ được ban hành dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật hành chính nêu trên đều là nguồn của quy phạm pháp luật hành chính vì nó chứa đựng trong nội dung của các quy phạm pháp luật hành chính.

Nghị định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

Là văn bản được ban hành để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, giám sát việc thi hành Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Uỷ ban thường vụ ‘Quốc hội. Quốc hội giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, giám sát và chỉ đạo hoạt động của Hội đồng nhân dân, quyết định tình trạng chiến tranh, động viên tổng hợp hoặc cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước. ở từng địa phương hoặc quyết định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Nghị quyết nào của Ủy ban thường vụ Quốc hội có quy phạm pháp luật hành chính là nguồn của quy phạm pháp luật hành chính?

Nghị quyết của hội đồng nhân dân các cấp:

Đây là văn bản quy phạm pháp luật duy nhất mà cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương có quyền ban hành. Nghị quyết của hội đồng nhân dân các cấp đề cập đến chính sách kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và việc giải quyết các vấn đề cụ thể khác của địa phương thuộc thẩm quyền của hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của pháp luật. Các văn bản này nếu có quy phạm pháp luật hành chính là nguồn của quy phạm pháp luật hành chính.

xem thêm: quan hệ pháp luật hành chính

Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước:

Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý hành chính của nhà nước theo quy định của pháp luật. Vì vậy, các văn bản là nguồn của luật hành chính do cơ quan này chiếm số lượng rất lớn:

– Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Ban hành để quyết định phương hướng, biện pháp lãnh đạo, điều hành công việc của chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương. cấp địa phương, quy định việc bố trí công tác với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân. các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của chính phủ.

– Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ có quy định pháp luật hành chính như một nguồn của luật hành chính.

– Lệnh, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ.

– Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật tố tụng được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.