Nhà xây trên đất của bố mẹ chồng, vợ có được chia khi ly hôn?

Bởi Trần Thu Thủy - 08/04/2020
view 1635
comment-forum-solid 0

Việc sau khi đăng ký kết hôn, hai vợ chồng được bố mẹ chồng đồng ý cho xây nhà trên thửa đất của bố mẹ là khá phổ biến tại Việt Nam nói chung. Thửa đất có thể do bố mẹ chồng cho bằng văn bản, cho bằng miệng hoặc có thể được bố mẹ chồng làm thủ tục tặng

cho, đăng ký biến động cho hai vợ chồng hoặc tặng cho cho riêng người chồng,... Vậy, khi ly hôn, thửa đất và căn nhà được phân chia như thế nào để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên?

Nguyên tắc chia tài sản ly hôn

Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trường hợp vợ chồng khi ly hôn thì việc chia tài sản khi ly hôn theo các nguyên tắc sau:

(i) Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

(ii) Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật

Tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như: (i) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; (ii) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; (iii) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; (iv) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Như vậy, để phân chia tài sản khi ly hôn phải xác định được tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng.

Theo đó Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung...

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Nhà xây trên đất bố mẹ chồng, vợ có được chia phần?

Thứ nhất, trường hợp đất đã được bố mẹ chồng tặng cho vợ, chồng:

Trường hợp này, có thể thửa đất được bố mẹ hứa tặng cho nhưng chưa hoàn thiện thủ tục hoặc đã hoàn thiện thủ tục tặng cho theo quy định của pháp luật đất đai. Do đó, thửa đất cần được xác định là tài sản chung của vợ chồng, căn nhà được xây trong thời kỳ hôn nhân (nếu không chứng minh được xây bằng tài sản riêng của vợ hoặc chồng) thì theo nguyên tắc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đất và nhà được chia theo thỏa thuận hoặc chia đôi (có tính các yếu tố khác như phân tích ở trên).

Thứ hai, trường hợp thửa đất đã được bố mẹ chồng tặng riêng cho vợ, chồng hoặc không tặng cho vợ chồng:

Nếu đất được bố mẹ tặng cho riêng vợ hoặc cho riêng chồng, thì mảnh đất được xác định là tài sản riêng của vợ, chồng. Nếu mảnh đất vẫn được xác định là tài sản của bố mẹ, thì vợ, chồng không có quyền sở hữu đối với mảnh đất. Căn nhà được xây trong thời kỳ hôn nhân cần được xác định là tài sản chung của vợ chồng (nếu không chứng minh được căn nhà được xây bằng tài sản riêng của vợ hoặc chồng), do đó, căn nhà được phân chia theo nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng.

Như vậy, trong trường hợp vợ chồng xây nhà trên đất của bố mẹ chồng thì việc chia tài sản bằng hiện vật, nghĩa là chỉ cho mỗi người sở hữu một phần căn nhà hoặc tháo dỡ căn nhà để phân chia sẽ không thực hiện được.

Do vậy phải phân chia theo giá trị, nghĩa là bên chồng nếu nhận toàn bộ căn nhà thì phải thanh toán cho bên vợ một khoản tiền xác định theo giá trị thị trường của căn nhà theo nguyên tắc chia đôi và có xem xét đến các yếu tố quy định tại Điều 59 ở trên.

Tóm lại, hai vợ chồng sẽ phải thỏa thuận về giá trị ngôi nhà, xác định số tiền yêu cầu bên chồng thanh toán cho vợ khi ly hôn. Nếu không thể thỏa thuận được, người vợ có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc phân chia căn nhà.

Lưu ý về việc phân chia tài sản trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình:

Điều 61 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định việc chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình.

Cụ thể, trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Khi giải quyết Tòa án sẽ căn cứ vào các chứng cứ chứng minh cũng như phần đóng góp của mỗi bên để chia tài sản hợp lý.

Ngoài ra, theo quy định của Điều 5 Thông tư 23/2014/TT-BTNMT Tài sản gắn liền với đất nhưng không thuộc sở hữu của người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận sẽ được cấp riêng cho người sử dụng đất.

Xem thêm:

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1.  Bài viết trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân gia đình được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.56503 sec| 1016.555 kb