Quy định của pháp luật tố tụng dân sự về chuyển đơn khởi kiện

0
998
5/5 - (5 bình chọn)

Chuyển đơn khởi kiện là một trường hợp khá phổ biến trong tố tụng dân sự. Về bản chất pháp lý, chuyển đơn khởi kiện nằm ở giai đoạn nhận và xử lý đơn khởi kiện cũng tương tự như chuyển vụ án trong giai đoạn thụ lý và chuẩn bị xét xử.

Bài viết được thực hiện bởi Luật gia Trần Thị Thu Hoài – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

– Chuyển đơn khởi kiện là gì?

Tranh chấp dân sự là những tranh chấp về quyền, quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Khi có tranh chấp dân sự phát sinh, trường hợp các bên không thể thỏa thuận được có quyền gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

Khác với trả lại đơn khởi kiện, chuyển đơn khởi kiện xảy ra khi vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (thẩm quyền vụ việc) nhưng có căn cứ để xác định vụ án đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhận đơn (thẩm quyền về cấp, thẩm quyền về lãnh thổ) mà thuộc thẩm quyền giải quyết của một Tòa án khác.

Theo đó, Tòa án nhận đơn có nghĩa vụ nhận và chuyển đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

– Thời điểm chuyển đơn khởi kiện

Khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện như sau: “3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây: a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này; c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác; d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án”.

Như vậy, việc chuyển đơn khởi kiện được thực hiện khi người khởi kiện đã nộp đơn khởi kiện đến Tòa an, đang trong quá trình xử lý đơn khởi kiện và vụ án chưa được thụ lý giải quyết.

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật đất đai, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

– So sánh chuyển đơn khởi kiện và chuyển vụ án 

Chuyển đơn khởi kiện và chuyển vụ án tuy nằm ở hai giai đoạn tố tụng khác nhau, nhưng hoàn toàn giống nhau về bản chất pháp lý. Đó đều là việc Tòa án đang xem xét, thụ lý giải quyết hồ sơ nhận thấy có căn cứ để xác định vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án khác, nên Tòa án đang xem xét, thụ lý hồ sơ có nghĩa vụ chuyển hồ sơ khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết. 

Thời điểm

  • Chuyển đơn: Trước khi thụ lý vụ án
  • Chuyển vụ án: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án xét thấy không thuộc thẩm quyền giải quyết mà thuộc thẩm quyền của Tòa án khác.

Chủ thể có thẩm quyền giải quyết

  • Chuyển đơn: Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện ra quyết định chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền 
  • Chuyển vụ án: Tòa án đã thụ lý ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý.

Căn cứ pháp lý

  • Chuyển đơn: Điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. 
  • Chuyển vụ án: Điều 41 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. 

– Một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự về chuyển đơn khởi kiện.

Thứ nhất, hình thức văn bản được ban hành khi quyết định chuyển đơn khởi kiện.

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chưa có quy định cụ thể về thủ tục chuyển đơn khởi kiện, mà chỉ quy định ngắn gọn: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây: Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác”. Quy định này dẫn đến cách hiểu việc chuyển đơn khởi kiện do Thẩm phán ban hành dưới hình thức bằng một quyết định. Và đến nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về việc chuyển đơn khởi kiện được ban hành dưới hình thức tên loại văn bản là quyết định hay thông báo. Gây ra tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án. Có Tòa án ban hành Thông báo chuyển đơn khởi kiện. Có Tòa án ban hành Quyết định chuyển đơn khởi kiện, đồng thời ban hành thêm Thông báo chuyển đơn, trong khi nội dung của quyết định và thông báo hoàn toàn giống nhau.

Thứ hai, khiếu nại, kiến nghị về việc chuyển đơn khởi kiện và giải quyết khiếu nại, kiến nghị.

Quyền khiếu nại là một trong những quyền, nghĩa vụ cơ bản của con người và công dân, còn nghĩa vụ tiếp nhận và giải quyết khiếu nại là của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được ghi nhận tại Điều 30 Hiến pháp năm 2013. Cụ thể: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo”.

Cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ hiến định trên, Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 quy định: Đương sự có quyền được nhận thông báo hợp lệ để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, được cấp trích lục bản án, bản án, quyết định của Tòa án, kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụngngười tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động tố tụng dân sự. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết cho người đã khiếu nại, tố cáo.

Xem thêm: 

– Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực dân sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây