Vốn điều lệ thấp có ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án đầu tư không?

0
773
5/5 - (12 bình chọn)

Câu hỏi

Doanh nghiệp được thành lập từ năm 2011, hoạt động trong lĩnh vực Xây dựng, Kinh doanh Bất động sản, Vốn Điều lệ là 6 tỷ đồng. Năm 2012, Doanh nghiệp thực hiện đầu tư dự án khu đô thị có quy mô 17 ha, với tổng mức đầu tư là 1500 tỷ đồng, Vốn Điều lệ Công ty không thay đổi. Đến thời điểm hiện nay, Vốn Điều lệ Công ty đã tăng lên 20 tỷ đồng, dự án vẫn đang tiếp tục được triển khai. Theo Khoản 2 – Điều 14 – Nghị định số 43/2014/NĐ-CP v/v quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai năm 2013 thì Công ty không đảm bảo năng lực tài chính để thực hiện dự án. Tuy nhiên, dự án đã được Công ty thực hiện trước khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực. Như vậy, Luật sư giải đáp giúp tôi:

Đến nay dự án vẫn được triển khai thì có vướng mắc gì về mặt pháp lý không? Đứng ở góc độ Nhà nước thì Công ty sẽ bị xử lý như thế nào?

Nếu bị xử lý thì hướng giải quyết để Công ty tiếp tục thực hiện dự án trong trường hợp này? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 19006198

Luật sư tư vấn trả lời

Căn cứ thông tin mà bạn đã cung cấp, có thể hiểu bạn đang vướng mắc ở hai vấn đề: vốn điều lệ thấp hơn vốn đầu tư và vấn đề pháp luật thay đổi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến dự án đầu tư của doanh nghiệp bạn? Để giải quyết những vướng mắc trên đây, chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, đối với vấn đề vốn điều lệ thấp hơn vốn đầu tư

Theo quy định tại Khoản 29 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014: “Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần.”

Và theo quy định tại Khoản 18 Điều 3 Luật Đầu tư: “Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”

Như vậy, căn cứ theo những quy định trên đây, vốn điều lệ và vốn đầu tư là hai khoản vốn độc lập. Do đó, nếu vốn điều lệ của doanh nghiệp bạn thấp hơn vốn đầu tư hoặc vốn điều lệ thay đổi trong quá trình thì hoàn toàn không ảnh hưởng đến quá trình thực hiện dự án đầu tư.

Thứ hai, đối với vấn đề thực hiện dự án đầu tư

Bởi vì thông tin mà bạn cung cấp không rõ ràng nên không thể xác định rõ vấn đề đang thắc mắc về mặt pháp lý ở đây là gì. Tuy nhiên, nếu liên quan đến vấn đề năng lực tài chính thực hiện dự án đầu tư ở thời điểm hiện tại thì xác định theo quy định của Luật Đất đai 2013 và văn bản hướng dẫn thi hành như sau:

Khoản 3 Điều 58 Luật Đất đai 2013 được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 100a Nghị định 01/2017/NĐ-CP quy định như sau:

Điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư quy định tại khoản 3 Điều 58 của Luật đất đai và Điều 14 của Nghị định này không áp dụng đối với các trường hợp sau đây:

Dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đầu tư hoặc dự án đã được Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư trước ngày 01 tháng 7 năm 2014;

Dự án đầu tư không phải trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc dự án không phải cấp Giấy chứng nhận đầu tư nhưng đã được cơ quan tài nguyên và môi trường thẩm định nhu cầu sử dụng đất và đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận đầu tư trước ngày 01 tháng 7 năm 2014.”

Như vậy theo quy định của pháp luật hiện hành, doanh nghiệp bạn phải đáp ứng đủ điều kiện về năng lực tài chính để thực hiện dự án đất đầu tư. Nhưng doanh nghiệp của bạn đã có giấy phép đầu tư và thực hiện dự án đầu tư từ năm 2012, do đó trong trường hợp này sẽ không áp dụng các quy định của Luật Đất đai 2013 để xác định điều kiện về năng lực tài chính đối với doanh nghiệp bạn.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

 

 

 

 

 

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây