Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

0
121
Đánh giá

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận hợp pháp của người có quyền sử dụng đất. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định của cơ quan nhà nước có THẨM QUYỀN, xảy ra trong một số trường hợp nhất định. Vậy thẩm quyền hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc về cơ quan nào? 

Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Bài viết được thực hiện bởi: Chuyên viên Nguyễn Thị Ngân – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là gì?

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 và là một quyết định hành chính theo Phần I.1 Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao.

Theo khoản 2 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định quyết định cá biệt là quyết định đã được ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Theo đó, giấy chứng nhận là một quyết định cá biệt vì nó quy định về một vấn đề cụ thể là chứng nhận quyền sử dụng đất cho một hoặc một số đối tượng cụ thể.

Cơ quan nào có thẩm quyền hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.

Theo khoản 4 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định cá biệt được xác định theo quy định tương ứng tại Điều 31, Điều 32 của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Theo Phần II Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao về một số vấn đề trong tố tụng hành chính, tố tụng dân sự có hướng dẫn:

(i) Trường hợp quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và phải hủy quyết định đó mới bảo đảm giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự mà việc hủy quyết định đó không làm thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự thì Tòa án đang giải quyết vụ việc dân sự tiếp tục giải quyết và xem xét hủy quyết định đó.

(ii) Trường hợp việc xem xét hủy quyết định đó dẫn đến thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý giải quyết vụ việc dân sự phải chuyển vụ việc cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết và xem xét hủy quyết định đó.

Xem thêm: Điều kiện cấp giấy chứng nhận sử dụng đất

Các trường hợp hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trường hợp 1: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị mất

Theo quy định tại khoản 3 Điều 77 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Văn phòng đăng ký đất đai lập hồ sơ trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo Điều 37 của Nghị định này ký quyết định hủy Giấy chứng nhận bị mất, đồng thời ký cấp lại Giấy chứng nhận sử dụng đất; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai.

Trường hợp 2: Không nộp Giấy chứng nhận đã cấp để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận mới khi chuyển quyền sử dụng đất.

(i) Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 82 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, trường hợp người đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà bên nhận chuyển quyền sử dụng chỉ có Giấy chứng nhận của bên chuyển quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng theo quy định thì nộp đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận sử dụng đất và các giấy tờ về quyền sử dụng đất hiện có.

(ii) Văn phòng đăng ký đất đai thông báo bằng văn bản cho bên chuyển quyền và niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người nhận chuyển quyền.

(iii) Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo hoặc đăng tin lần đầu tiên trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương mà không có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì Văn phòng đăng ký đất đai lập hồ sơ để trình cơ quan có thẩm quyền quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp không nộp Giấy chứng nhận để làm thủ tục đồng thời cấp Giấy chứng nhận mới cho bên nhận chuyển quyền.

Trường hợp 3: Không giao nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận

Theo quy định tại khoản 7 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, trong trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận mà người sử dụng đất không giao nộp Giấy chứng nhận thì Văn phòng đăng ký đất đai báo cáo cơ quan có thẩm quyền quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp.

Trường hợp 4: Hủy Giấy chứng nhận theo bản án, quyết định của Tòa án

Tìm hiểu thêm qua bài viết: Hủy giấy chứng nhận cấp sai người

Thời hiệu yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật nêu trên – gọi tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Khi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho một chủ thể nào đó, mà đương sự trong vụ án dân sự cho rằng việc cấp giấy đó là không đúng quy định, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ thì họ có quyền yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận đó trong cùng một vụ án dân sự theo Điều 34 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. 

Trong các vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất, nếu đương sự có yêu cầu hủy giấy chứng nhận mà Ủy ban nhân dân có thẩm quyền đã cấp cho một trong các bên, thì Tòa án phải xem xét việc cấp giấy đó có đúng hay không để giải quyết trong cùng một vụ án dân sự. 

Trước khi Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thì việc giải quyết yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tòa án hai cấp không xem xét đến việc còn thời hiệu hay không. Vì theo quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2014, hướng dẫn thi hành Điều 32a của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004: Tòa án không áp dụng thời hiệu quy định trong pháp luật tố tụng hành chính khi xem xét yêu cầu hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật.

Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 154 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016) quy định: Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành, văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực. Như vậy, khi Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 hết hiệu lực thi hành thì Thông tư liên tịch 01/2014 cũng đồng thời hết hiệu lực.

Vì vậy, khi Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành thì không thể áp dụng Điều 5 Thông tư liên tịch 01/2014 để xác định: không áp dụng thời hiệu quy định trong pháp luật tố tụng hành chính khi xem xét yêu cầu hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật. 

Vậy, khi áp dụng Điều 34 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 để xem xét hủy giấy chứng nhận trong vụ án dân sự thì Tòa án có áp dụng thời hiệu theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính năm 2015 hay không? Vấn đề này, hiện nay có hai quan điểm như sau: 

Quan điểm thứ nhất cho rằng: theo khoản 4 Điều 154 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì hiện nay Thông tư liên tịch 01/2014 đã hết hiệu lực; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định: thời hiệu khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính. Trong thời gian chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 34 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 thì cần phải áp dụng thời hiệu khởi kiện yêu cầu hủy theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu có xem xét yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thời hiệu không còn thì Tòa án có thể kiến nghị Ủy ban nhân dân có thẩm quyền thu hồi giấy để cấp lại cho đúng quy định.

Quan điểm thứ hai cho rằng tại khoản 4 Điều 34 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định: thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định cá biệt được xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Như vậy, khi xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong cùng vụ án dân sự, thì thẩm quyền của Tòa án xác định theo Luật tố tụng hành chính, không thể vận dụng thời hiệu khởi kiện quyết định cá biệt theo Luật tố tụng hành chính để áp dụng trong trường hợp này. Các vụ tranh chấp đất đai hiện nay, đa số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến diện tích đất tranh chấp được cấp giấy đã lâu. Nếu xác định thời hiệu khởi kiện theo Luật tố tụng hành chính thì đa số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã hết thời hiệu khởi kiện. Trong quá trình giải quyết vụ án, theo yêu cầu của đương sự và có căn cứ cho rằng việc cấp giấy đó không quy định, nếu Tòa án không xem xét hủy giấy chứng nhận quyền đó thì việc giải quyết vụ án không triệt để và khi án có hiệu lực thì không thể thi hành được.

Hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao chưa có văn bản hướng dẫn thi hành Điều 34 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 nên những người tiến hành tố tụng còn lúng túng khi áp dụng thời hiệu giải quyết các trường hợp hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong vụ án dân sự. Do đó, đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sớm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành đối với trường hợp này, để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự.

Xem thêm: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất – Bằng chứng chứng minh quyền sở hữu

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực đất đai (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.