Di chúc chung của vợ chồng liệu có hợp pháp?

0
100

Việc xác lập di chúc phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc. Trong một số trường hợp cụ thể, bên cạnh những người muốn lập di chúc riêng, có những người muốn lập di chúc chung của vợ chồng. Vậy theo quy định của pháp luật hiện hành, có cơ sở để lập di chúc chung của vợ chồng hay không?

Luật sư Trần Đình Thanh – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900.6198

– Di sản chung của vợ chồng

Theo Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, tài sản chung của vợ chồng được xác định bao gồm:

(i) Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh

(ii) Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân

(iii) Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung

(iv) Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

(v) Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.” Như vậy, nếu đặt ra vấn đề di sản chung của vợ chồng thì phần di sản được đề cập trong di chúc sẽ là toàn bộ khối tài sản chung của vợ chồng. 

Cũng theo nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ chồng hoàn toàn bình đẳng với nhau trong việc định đoạt tài sản chung. Do vậy vợ chồng có cơ sở để định đoạt tài sản chung thông qua di chúc.

– Di chúc chung của vợ chồng

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ thể tại Điều 663 quy định: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung.”

Ngoài ra, Điều 664 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng quy định về việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ đối với loại di chúc này như sau: 

“1. Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào.

2. Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.”

Hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng cũng được quy định tại Điều 668 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết.”

Như vậy, theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005, di chúc chung của vợ chồng có quy định điều chỉnh cụ thể và được coi là hợp pháp.

Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực đã bỏ quy định về việc lập di chúc chung của vợ chồng. Bởi lẽ, khi muốn sửa chữa, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc phải được sự đồng ý của người còn lại. Ngoài ra, nếu một người đã chết thì người còn lại chỉ được sửa đổi, bổ sung di chúc với phần tài sản của mình. Lúc này, để phân chia và xác định phần tài sản của người này sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

– Liệu di chúc chung của vợ chồng có hợp pháp?

Mặc dù bỏ qua không quy định về di chúc chung như Bộ luật Dân sự 2005 nhưng Bộ luật Dân sự 2015 cũng không cấm lập di chúc chung. Bởi chỉ cần thỏa mãn các điều kiện sau đây thì di chúc sẽ có hiệu lực:

(i) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc;

(ii) Người lập di chúc không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

(iii) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;

(iv) Hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Trong trường hợp này có thể xác định di chúc chung của vợ chồng thuộc trường hợp chưa có điều luật cụ thể áp dụng. Về hướng xử lý trường hợp chưa có điều luật cụ thể để áp dụng, Bộ luật Dân sự năm 2015 có một số quy định mới. Trong các quy định mới này phải kể đến khoản 2 Điều 14 với nội dung “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật cụ thể để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng”. Do đó, nếu có tranh chấp về di chúc chung của vợ chồng về tài sản chung của họ, Tòa án không được từ chối giải quyết, tức phải giải quyết nội dung tranh chấp. 

Khoản 2 Điều 14 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định Tòa án giải quyết trên cơ sở Điều 5 và Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, trong trường hợp chưa có quy định ghi nhận một cách minh thị di chúc chung của vợ chồng, Tòa án phải tạo lập ra án lệ để điều chỉnh trên cơ sở lẽ công bằng, các nguyên tắc cơ bản trong đó có Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 với nội dung: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện quyền dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”.

Xem thêm: 

– Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật tố tụng được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây