Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Sóc Sơn (Hà Nội): lấy danh nghĩa trả nợ thay để chiếm nhà

Bởi Trần Thu Thủy - 01/09/2020
view 592
comment-forum-solid 0
Ông Nguyễn Thành Đô là chủ sở hữu hợp pháp thửa đất số 57a, tờ bản đồ số 07, diện tích 380 m2 địa chỉ tại thôn Tăng Long, xã Việt Long, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn Văn Hoàn lợi dụng Hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Thành Đô và ông Phan Đăng Bé để chiếm giữ trái phép diện tích đất , ngôi nhà và các tài sản có giá trị của ông Nguyễn Thành Đô. 

Do có nhu cầu kinh doanh, khoảng tháng 03/2017, ông Nguyễn Thành Đô vay của ông Phan Đăng Bé 235.000.000 đồng và đã thanh toán 65.000.000 đồng. Để đảm bảo khoản vay, ông Nguyễn Thành Đô và ông Phan Đăng Bé đã ký Hợp đồng ủy quyền với mục đích đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Thành Đô cho ông Phan Đăng Bé. Sau đó, ông Nguyễn Văn Hoàn đã đứng ra trả nợ thay ông Nguyễn Thành Đô với lãi suất 3% và lấy lại Hợp đồng ủy quyền. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Hoàn đã đuổi chúng tôi ra khỏi nhà và khi ông Nguyễn Thành Đô trả tiền vay cho ông Nguyễn Văn Hoàn thì số tiền yêu cầu phải trả là 510.000.000 đồng hoặc sẽ bị lấy mất ngôi nhà và tài sản.

Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng là ông Nguyễn Thành Đô trong vụ việc chỉ ra rằng: (1) Hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Thành Đô và ông Phan Đăng Bé vô hiệu do giả tạo; (2) Hành vi của ông Nguyễn Văn Hoàn có dấu hiệu của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội xâm phạm chỗ ở và tội chiếm giữ trái phép tài sản của người khác.

  • Tóm tắt diễn biến sự việc:

Ông Nguyễn Thành Đô là chủ sở hữu Thửa đất số 57a, tờ bản đồ số 07, diện tích 380 m2 địa chỉ tại thôn Tăng Long, xã Việt Long, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 566937, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00188 (gọi tắt là: “Thửa đất đố 57a”). Trong đó, nguồn gốc đất do nhận thừa kế và các tài sản trên đất bao gồm: nhà trần bê tông, cốt sắt, rộng khoảng 140 m2, nhà 01 tầng, xây năm 2014.

Ngày 13/05/2013, ông Nguyễn Thành Đô ký “Giấy bán đất thổ cư” với ông Nguyễn Văn Hoàn (địa chỉ tại thôn Tăng Long, xã Việt Long, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội), chuyển nhương một phần Thửa đất số 57a - diện tích là 180m2 (bản viết tay, không có công chứng, chứng thực, nhưng có người làm chứng là ông Nguyễn Văn Huân). Ông Nguyễn Văn Hoàn đã thanh toán tiền cọc thửa đất, ông Nguyễn Thành Đô và ông Nguyễn Văn Hoàn đã xác nhận mốc giới thửa đất diện tích 180m2 trên thực địa. Tuy nhiên, diện tích thực tế ông Nguyễn Văn Hoàn đang sử dụng là khoảng 245m2.

Ngày 17/05/2013, ông Nguyễn Thành Đô ký “Giấy bán đất thổ cư” với bà Nguyễn Thị Thơm (địa chỉ tại thôn Tăng Long, xã Việt Long, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội), chuyển nhương một phần Thửa đất số 57a - diện tích là 60m2 (bản viết tay, không có công chứng, chứng thực, nhưng có người làm chứng là bà Lưu Thị Tài).

Vào khoảng tháng 03/2017, ông Nguyễn Thành Đô vay của ông Phan Đăng Bé 235.000.000 đồng (hai trăm ba mươi lăm triệu đồng) để kinh doanh. Sau đó, ông Nguyễn Thành Đô đã thanh toán cho ông Phan Đăng Bé 35.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay này, ngày 23/03/2017, ông Nguyễn Thành Đô và ông Phan Đăng Bé ký Hợp đồng ủy quyền số công chứng 789/2017/HĐUQ, quyển số 01, ngày 23/03/2017 tại Văn phòng công chứng Công Thành, tỉnh Bắc Ninh (gọi tắt là “Hợp đồng ủy quyền”). Hai bên có thỏa thuận và hiểu rõ: mục đích của Hợp đồng ủy quyền chỉ đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Thành Đô cho ông Phan Đăng Bé.

Đến ngày 28/12/2019 âm lịch, ông Nguyễn Thành Đô được thông báo là ông Nguyễn Văn Hoàn đã đứng ra trả cho ông Nguyễn Thành Đô số tiền 200.000.000 đồng cho ông Phan Đăng Bé và lấy lại Hợp đồng ủy quyền cùng giấy tờ đất của ông Nguyễn Thành Đô. Ông Nguyễn Thành Đô đồng ý để Hoàn đứng ra trả nợ hộ ông Nguyễn Thành Đô và nhận nợ của Hoàn 200.000.000 đồng với lãi suất 2%, đến khoảng 1 tháng sau thì Hoàng báo lãi suất lên là 3%.

Ngày 18/04/2020, ông Nguyễn Thành Đô đến trao đổi để trả số tiền 200.000.000 đồng cho Hoàn thì Hoàn yêu cầu ông Nguyễn Thành Đô phải trả 310.000.000 đồng và số tiền mua bán đất còn lại trước kia với ông Nguyễn Thành Đô là xong, anh Hoàn không phải trả nữa. Ông Nguyễn Thành Đô không đồng ý việc trả 310.000.000 đồng vì khoản tiền này không theo thỏa thuận giữa ông Nguyễn Thành Đô và Hoàn, hơn nữa ông Nguyễn Thành Đô không đồng ý khấu trừ cả khoản tiền mua đất mà Hoàn chưa thanh toán.

Đến ngày 20/4/2020, ông Luân - bố của Hoàn và Hoàn đuổi ông Nguyễn Thành Đô ra khỏi nhà. Ông Luân khẳng định: tài sản trong nhà là của ông Luân và đã mua bán với ông Bé xong, không liên quan đến ông Nguyễn Thành Đô, sau đó lấy khóa khóa của nhà ông Nguyễn Thành Đô và từ đó đến nay, ông Nguyễn Thành Đô chưa về nhà ở được.

Ông Nguyễn Thành Đô đã nhiều lần đến đặt vấn đề với ông Luân và anh Hoàn để xin chuộc lại đất và lấy tài sản trong nhà ra nhưng gia đình Hoàn không đồng ý, yêu cầu ông Nguyễn Thành Đô phải chuộc lại với giá 510.000.000 đồng để lấy lại nhà đất, ông Nguyễn Thành Đô không đồng ý nên đã viết đơn gửi cơ quan Công an để giải quyết.

Quan điểm của Công ty Luật TNHH Everest như sau: Hành vi của ông Nguyễn Văn Hoàn và ông Phan Đăng Bé đã có dấu hiệu của tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015. Cụ thể:

  • Xét về tính chất pháp lý của Hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Thành Đô và ông Phan Đăng Bé.

Bản chất sự việc thể hiện: ông Nguyễn Thành Đô có vay của ông Phan Đăng Bé 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Giữa tôi và ông Phan Đăng Bé thỏa thuận đảm bảo thực hiện hợp đồng vay bằng phương thức: ông Phan Đăng Bé yêu cầu tôi lập Hợp đồng ủy quyền (định đoạt: chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp…) đồng thời cầm giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 566937. Như vậy, ý chí đích thực của ông Nguyễn Thành Đô và ông Phan Đăng Bé là giao kết hợp đồng thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Thành Đô, mà không phải “Hợp đồng ủy quyền” (định đoạt quyền sử dụng đất).

Căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2015, Hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Thành Đô và ông Phan Đăng Bé thuộc trường hợp vô hiệu do giả tạo. Hợp đồng ủy quyền vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên (ông Nguyễn Thành Đô, ông Phan Đăng Bé) kể từ thời điểm xác lập hợp đồng.

Kể cả trường hợp Hợp đồng ủy quyền có hiệu lực, bên được ủy quyền cần thực hiện các công việc nhằm nhân danh và vì lợi ích của bên ủy quyền (ông Nguyễn Thành Đô).

Nội dung ủy quyền nêu rõ: “Bên A ủy quyền cho Bên B được thực hiện các nội dung cụ thể dưới đây:…Toàn quyền định đoạt, giao dịch (cho thuê/cho mượn/trao đổi/tặng cho/thế chấp/chuyển nhượng) quyền sử dụng đất nói trên theo quy định của pháp luật”.

Cần phải hiểu bản chất đây là quan hệ ủy quyền, do vậy khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thành Đô. Ông Phan Đăng Bé có nghĩa vụ phải thông báo và hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất đã chuyển. Tuy nhiên, chỉ đến ngày 28/12/2019 âm lịch, ông Nguyễn Thành Đô mới được thông báo là ông Nguyễn Văn Hoàn đã đứng ra trả cho ông Nguyễn Thành Đô số tiền 200.000.000 đồng cho ông Phan Đăng Bé và lấy lại Hợp đồng ủy quyền cùng giấy tờ đất của ông Nguyễn Thành Đô. Như vậy, Phan Đăng Bé đã không thực hiện đúng nội dung ủy quyền của ông Nguyễn Thành Đô và ông Phan Đăng Bé.

Ông Phan Đăng Bé đã biết rõ nội dung ủy quyền, biết rõ nghĩa vụ phải thực hiện theo nội dung ủy quyền, tuy nhiên, ông Phan Đăng Bé đã không thông báo với ông Nguyễn Thành Đô dẫn đến việc ông Nguyễn Thành Đô đã chiễm hữu bất hợp pháp mảnh đất và diện tích nhà do ông Nguyễn Thành Đô là chủ sử dụng và sở hữu. Do vậy, cần xem xét hành vi của ông Phan Đăng Bé có dấu hiệu đồng phạm với ông Nguyễn Thành Đô.

  • Đối với hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Thành Đô:

Về bản chất ông Nguyễn Thành Đô chỉ vay của ông Phan Đăng Bé số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), đồng thời hai bên ký Hợp đồng ủy quyền ông Nguyễn Thành Đô giao cho ông Phan Đăng Bé Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 566937 để đảm bảo việc trả nợ. Ông Phan Đăng Bé sau đó chuyển quyền đòi nợ số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) cho ông Nguyễn Văn Hoàn (đã nhận đủ tiền gốc, lãi từ ông Nguyễn Văn Hoàn), nhưng lại sử dụng Hợp đồng ủy quyền để thực hiện giao dịch chuyển nhượng thửa đất diện tích 380 m2 mang tên ông Nguyễn Thành Đô sang cho ông Nguyễn Văn Hoàn là vi phạm điều cấm của pháp luật.

Đối với số tiền ông Nguyễn Văn Hoàn yêu cầu thanh toán: ông Nguyễn Thành Đô đồng ý để Hoàn đứng ra trả nợ hộ ông Nguyễn Thành Đô và nhận nợ của Hoàn 200.000.000 đồng với lãi suất 2%, đến khoảng 1 tháng sau thì Nguyễn Văn Hoàn báo lãi suất lên là 3%.

Đối với mức lãi suất này, ông Nguyễn Thành Đô đã đồng ý, tuy nhiên ông Nguyễn Văn Hoàn sau đó đã nhiều lần tăng mức tiền lên và để chuộc lại nhà và đất với giá 510.000.000 đồng. Như vậy, nếu tính số tiền gốc và số tiền lãi cũng chưa đến số tiền 510.000.000 đồng theo yêu cầu của ông Nguyễn Văn Hoàn. Mục đích của việc đưa ra số tiền 510.000.000 đồng nhằm chiếm đoạt được nhà và đất của gia đình ông Nguyễn Thành Đô.

Ông Nguyễn Văn Hoàn đã biết rõ: ông Nguyễn Thành Đô chỉ có nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi của số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu đồng), nhưng đã chuyển dịch quyền sở hữu, sử dụng nhà, đất (diện tích 152 m2) của ông Nguyễn Thành Đô thành của mình - có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015).

  • Đối với hành vi xâm phạm chỗ ở và chiếm giữ trái phép tài sản người khác.

Theo Hợp đồng ủy quyền do ông Nguyễn Thành Đô và ông Phan Đăng Bé ký kết thể hiện căn cứ ủy quyền: Thửa đất số 57a, tờ bản đồ số 07, diện tích: 380 m2 (bao gồm: 300 m2 đất ở và 80 m2 đất vườn). Như vậy nội dung ủy quyền không bao gồm ngôi nhà của ông Nguyễn Thành Đô được xây dựng trên diện tích đất trên với diện tích khoảng 140 m2, nhà 01 tầng, xây năm 2014.

Như vậy, ngôi nhà và diện tích đất vẫn thuộc quyền sở hữu và hợp pháp của ông Nguyễn Thành Đô và ông Nguyễn Thành Đô là chủ sở hữu hợp pháp đối với ngôi nhà nêu trên. Hành vi của ông Nguyễn Văn Hoàn và và ông Luân - bố của Hoàn:  tự ý đến xâm phạm chỗ ở hợp pháp của ông Nguyễn Thành Đô, gây sức ép về tinh thần buộc ông Nguyễn Thành Đô và gia đình ông Nguyễn Thành Đô phải rời khỏi chỗ ở hợp pháp của họ có dấu hiệu của tội xâm phạm chỗ ở theo Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm: a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác; b) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, gây sức ép về tinh thần hoặc thủ đoạn trái pháp luật khác buộc người khác phải rời khỏi chỗ ở hợp pháp của họ; c) Dùng mọi thủ đoạn trái pháp luật nhằm chiếm, giữ chỗ ở hoặc cản trở trái phép, không cho người đang ở hoặc quản lý hợp pháp chỗ ở được vào chỗ ở của họ; d) Tự ý xâm nhập chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý của chủ nhà hoặc người quản lý hợp pháp”.

Đến thời điểm hiện tại, ông Nguyễn Thành Đô đã nhiều lần yêu cầu ông Nguyễn Văn Hoàn trả lại ngôi nhà và diện tích đất cho ông Nguyễn Thành Đô. Cụ thể, ngày 20/05/2020, tại buổi hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã Việt Long, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, ông Nguyễn Văn Huân (bố ông Nguyễn Văn Hoàn) không đồng ý trả đất và nhà cho ông Nguyễn Thành Đô; Ngày 25/07/2020, tại buổi làm việc tại nhà ông Nguyễn Thành Đôcó 02 (hai) trưởng thôn, đồng chí công an viên, tuy nhiên ông Nguyễn Văn Hoàn vẫn không trả đồng ý trả lại đất và nhà. Những lần làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đều được ghi lại thành Biên bản làm việc và có hình ảnh, ghi âm, ghi hình làm chứng cứ. Đồng thời các tài sản trong ngôi nhà thuộc sở hữu của ông Nguyễn Thành Đô đều bị ông Nguyễn Văn Hoàn và ông Nguyễn Văn Luận chiếm giữ bất hợp pháp. Các tài sản đều có giá trị bao gồm:…………….

Tài sản có trong ngôi nhà của ông Nguyễn Thành Đô

Ông Nguyễn Văn Hoàn đã khóa cửa ngôi nhà ông Nguyễn Thành Đô sở hữu hợp pháp cùng các tài sản có trong ngôi nhà và có hành vi sử dụng ngôi nhà. Như vậy, có dấu hiệu của Tội chiếm giữ trái phép tài sản theo Điều 176 Bộ luật Hình sự năm 2015: “1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.16371 sec| 1064.727 kb