Ly hôn khi không biết địa chỉ của vợ, chồng đang ở nước ngoài

0
798
5/5 - (6 bình chọn)

Để tạo thuận lợi cho vợ hoặc chồng khi ly hôn mà không biết địa chỉ của bên kia đang ở nước ngoài, pháp luật hôn nhân và gia đình có các quy định hướng dẫn Tòa án giải quyết. Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Bài viết được thực hiện bởi Luật sư Nguyễn Thị Yến – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Ly hôn – Chấm dứt quan hệ vợ chồng

Khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.

Như vậy, kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ, đồng thời việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Vợ, chồng sẽ được cấp Giấy chứng nhận kết hôn.

Khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”.

Để chấm dứt quan hệ vợ chồng, các bên cần gửi đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Tòa án) để yêu cầu và bản án hoặc quyết định của Tòa án là căn cứ chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Ly hôn có yếu tố nước ngoài là gì?

Ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trong đó yếu tố nước ngoài được thể hiện bởi một trong ba yếu tố như sau:

(i) Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam hoặc người Việt Nam đang ở nước ngoài.

Trong đó: Người nước ngoài bao gồm: người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch.

Người Việt Nam đang ở nước ngoài: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang làm việc, học tập có thời hạn tại nước ngoài.

(ii) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

(iii) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.

Như vậy, trường hợp một bên vợ hoặc chồng là người Việt Nam đang ở nước ngoài, việc giải quyết ly hôn sẽ được áp dụng các quy định pháp luật chung về ly hôn và quy định về giải quyết vụ việc có yếu tố nước ngoài.

Tuy nhiên, cần lưu ý về thẩm quyền giải quyết ly hôn khi vợ, chồng đang ở nước ngoài khác với trong nước. Cụ thể, Khoản 3 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này”.

Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: “Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây: c) Tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật này”.

Như vậy, đối với vụ việc ly hôn có vợ, chồng đang ở nước ngoài, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Trường hợp một bên muốn ly hôn tuy nhiên không biết và không thể biết được địa chỉ của bên kia, để tạo thuận lợi cho người dân, pháp luật hôn nhân và gia đình đã có những quy định về việc ly hôn khi vợ hoặc chồng đang ở nước ngoài nhưng không thể biết được địa chỉ của bên kia.

Giải pháp khi không biết địa chỉ của vợ hoặc chồng đang ở nước ngoài

Căn cứ Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ như sau: “1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này”.

Như vậy, theo nguyên tắc vợ hoặc chồng phải gửi đơn đến Tòa án nơi bên kia cư trú, làm việc. Trường hợp vợ hoặc chồng đang ở nước ngoài và không thể liên lạc và trao đổi thông tin dẫn đến việc ly hôn gặp gián đoạn. Nhưng trên thực tế, vợ hoặc chồng không thể cung cấp địa chỉ mới cho Tòa án mặc dù đã áp dụng các biện pháp xác minh kể cả việc yêu cầu Tòa án xác định địa chỉ mới của bên kia.

Trường hợp này có thể áp dụng quy định pháp luật như sau:

Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định về Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu như sau: “1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây: a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết; c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết”.

Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/04/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình quy định:

“2.1. Đối với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với công dân Việt Nam đã đi ra nước ngoài

Khi giải quyết loại việc này, cần phân biệt như sau:

a. Đối với những trường hợp uỷ thác tư pháp không có kết quả vì lý do bị đơn sống lưu vong, không có cơ quan nào quản lý, không có địa chỉ rõ ràng nên không thể liên hệ với họ được, thì Toà án yêu cầu thân nhân của bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về Toà án những lời khai hoặc tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử theo thủ tục chung.

b. Trường hợp bên đương sự là bị đơn đang ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức hoặc giấu địa chỉ nên nguyên đơn ở trong nước không thể biết địa chỉ, tin tức của họ, thì giải quyết như sau:

– Nếu bị đơn ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức gì về họ (kể cả thân nhân của họ cũng không có địa chỉ, tin tức gì về họ), thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú tuyên bố bị đơn mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật về tuyên bố mất tích, tuyên bố chết.

– Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét xử Toà án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng”.

Như vậy có thể kết luận như sau: 

  • Đầu tiên, người có yêu cầu sẽ soạn đơn khởi kiện và ghi địa chỉ nơi cư trú, làm việc cuối cùng của người bị kiện;
  • Đối với những trường hợp uỷ thác tư pháp không có kết quả vì lý do bị đơn sống lưu vong, không có cơ quan nào quản lý, không có địa chỉ rõ ràng nên không thể liên hệ với họ được, thì Toà án yêu cầu thân nhân của bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về Toà án những lời khai hoặc tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử theo thủ tục chung.
  • Trường hợp bị đơn đang ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức hoặc giấu địa chỉ nên nguyên đơn ở trong nước không thể biết địa chỉ, tin tức của họ: (i) Nếu bị đơn ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức gì về họ (kể cả thân nhân của họ cũng không có địa chỉ, tin tức gì về họ), thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án; (ii) Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Trình tự, thủ tục ly hôn khi vợ, chồng đang ở nước ngoài

Bước 1: Người có yêu cầu ly hôn viết đơn xin ly hôn và gửi bộ hồ sơ xin ly hôn tới Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

  • Đơn xin ly hôn theo mẫu;
  • Giấy chứng nhận đăng kí kết hôn (Bản gốc);
  • Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);
  • Giấy khai sinh của con (Bản sao có chứng thực, nếu có);
  • Giấy tờ về quyền sở hữu, sử dụng tài sản chung của vợ chồng (nếu có).

Bước 2: Tòa án xem đơn, thẩm quyền giải quyết, sau đó Tòa án ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí gửi người nộp đơn. Người nộp đơn nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án. Tòa án thụ lý vụ án ly hôn và ra thông báo thụ lý vụ án gửi Viện kiểm sát cùng cấp và bị đơn (người có liên quan).

Bước 3: Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục pháp luật quy định. 

Lưu ý: Pháp luật không yêu cầu đơn ly hôn phải thông qua hòa giải tại cơ sở (Ủy ban nhân dân xã, phường, Công đoàn cơ quan,…) Tuy nhiên trên thực tế nhiều Tòa án vẫn bắt buộc có bước hòa giải này.

Thời gian giải quyết ly hôn với người nước ngoài

Thời hạn chuẩn bị xét xử: Từ 04 đến 06 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.

Thời hạn mở phiên tòa: Từ 01 đến 02 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tuy nhiên việc giải quyết cũng có phần phụ thuộc vào sự hợp tác của các bên và nội dung giải quyết tranh chấp của hai bên.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail:info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây