Ngoại tình không công khai, có bị xử phạt không?

0
397
5/5 - (1 bình chọn)

Hành vi ngoại tình là hành vi bị cấm theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, theo đó nghiêm cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật gia Huỳnh Thu Hương – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Hành vi ngoại tình là gì?

Theo từ điển tiếng Việt, hành vi ngoại tình là người đã có vợ hoặc có chồng có quan hệ yêu đương bất chính với người khác. Theo quy định của pháp luật, hành vi ngoại tình là việc người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ. Trong đó, chung sống như vợ chồng được hiểu là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.

Đối với hành vi ngoại tình không công khai hay còn gọi là lén lút nhưng chưa đến mức độ có con chung, chưa được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng; chưa có tài sản chung mà chỉ duy trì quan hệ đó. Mặc dù ngoại tình có thể dẫn tới hậu quả ảnh hưởng hạnh phúc gia đình, tác động mạnh đến quan hệ vợ chồng, quan hệ cha-con, mẹ-con. Tại các nước, ngoại tình thường là hành vi bị lên án. Pháp luật các nước có mức xử phạt khác nhau với hành vi này, có những nước chỉ cảnh cáo hoặc phạt tiền, có những nước phạt hình sự (ngồi tù), thậm chí một số nước có án tử hình với tội này. Ở Việt Nam, ngoại tình cũng là vấn đề bị lên án song việc xác định hành vi ngoại tình không công khai theo hướng chỉ có quan hệ yêu đương, không ràng buộc, không sống chung thì có được xử phạt hay không thì pháp luật hiện tại chưa có quy định xử lý hành chính hay hình sự. Nếu chứng minh được vợ/chồng ngoại tình không công khai và sống chung như vợ chồng với người khác thì người chồng/vợ đó sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật.

Ngoại tình không công khai, có bị xử phạt không?

Xử phạt vi phạm hành chính

Khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã có hiệu lực thi hành vào ngày 01/09/2020 thay thế cho Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, theo đó khoản 1 điều này quy định về hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau: “Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác”.

Theo đó có thể thấy, chồng bạn có thể chịu mức xử phạt lên đến 5 triệu đồng đối với hành vi ngoại tình của mình. Mức xử phạt này đã được tăng lên so với quy định trước kia cụ thể là Nghị định 110/2013/NĐ-CP. Ngoài hình thức phạt tiền trên, người vi phạm còn bị buộc chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật.

Truy cứu trách nhiệm hình sự

Nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau: “1- Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: (a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; (b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: (a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; (b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó“.

Trường hợp vợ chồng chưa ly hôn (và chưa quyết định việc ly hôn). Do đó, nếu người vi phạm chưa bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính, thì cơ quan có thẩm quyền chưa có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với những người này quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, theo như quy định trích dẫn trên, người chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người đã có vợ sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm nếu: (i) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; hoặc (ii) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Cần lưu ý, việc xem xét và xử lý trách nhiệm (hành chính, hình sự) là đối với cả hai người vi phạm.

Ngoài ra, người vợ/chồng có thể sử dụng một trong số các phương pháp hợp pháp như sau: (i) Gửi đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, hoặc phản ánh tới cơ quan chức năng (cơ quan quản lý, cơ quan Đảng) nơi người phá hoại hạnh phúc gia đình đang làm việc; (ii) Gửi đơn tới Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, Công an huyện nơi người đó cư trú, đề nghị xử lý hành chính (mức xử phạt hành chính là từ 01 đến 03 triệu đồng); (iii) Gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc chồng/vợ và người đó phải chấm dứt hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Nếu chồng/vợ muốn chấm dứt hôn nhân mà vợ/chồng không thuận tình ly hôn, người kia có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được“.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây