Nội dung cơ bản của chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

Bởi Trần Thu Thủy - 03/01/2020
view 672
comment-forum-solid 0
Các nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận do vợ chồng quyết định. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không đưa ra những điều khoản điều chỉnh một cách cụ thể về vấn đề này. Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chế độ tài sản và giải quyết tranh chấp, luật quy định thỏa thuận của vợ chồng phải xác định được những nội dung cơ bản bao gồm: xác định tài sản của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản, phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản và các nội dung có liên quan khác.

Luật sư tư vấn pháp luật Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn (24/7): 19006198

Xác định tài sản của vợ chồng

Vấn đề xác định chế độ tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được quy định tại điểm a khoản 1 điều 48 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:“ Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng ”.

Theo đó, trong văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, trước hết vợ, chồng cần xác định rõ những tài sản nào là tài sản riêng của mỗi bên và những tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng. Hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề này, khoản 1 điều 15 Nghị định 126/2014 NĐ- CP của Chính phủ có quy định như sau:

Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung; Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó; Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng”.

Như vậy, khi xác định về trong nội dung thỏa thuận, vợ, chồng có thể xác định theo các nội dung sau: nếu giữa vợ và chồng có tài sản thì tài sản của vợ, chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng; giữa vợ và chồng không có tài sản riêng (tất cả tài sản có được trước và trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung); giữa vợ và chồng không có tài sản chung (tất cả tài sản có được trước và trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản riêng); hoặc được xác định theo thỏa thuận khác của vợ, chồng (ví dụ xác định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản chung).

Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản

Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản được xem là nôi dung quan trọng nhất và cơ bản nhất khi các bên vợ chồng thực hiện việc thỏa thuận về chế độ tài sản và nó cũng được Luật Hôn nhân và gia đình 2014 ghi nhận tại điểm b khoản 1 điều 48: “ Quyền nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình”.

Trên cơ sở xác định nội dung về tài sản trong thỏa thuận trước đó vợ và chồng thỏa thuận về các quyền của mỗi bên đôi với tài sản chung, tài sản riêng cũng như những nghĩa vụ riêng, nghĩa vụ chung về tài sản hai bên phải gánh chịu và những nhu cầu thiết yếu của gia đình sẽ được đảm bản bằng tài sản chung hay tài sản riêng. Bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình là nghĩa vụ của vợ, chồng, trong trường hợp vợ chồng thỏa thuận tài sản bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình là tài sản chung nhưng tài sản chung không đủ thì vợ, chồng cần thỏa thuận việc có đóng góp tài sản riêng của mỗi bên và đóng góp bao nhiêu vào tài sản chung để đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho gia đình.

Phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản theo thỏa thuận

Việc phân chia tài sản cũng là một nội dung được quan tâm trong quá trình vợ chồng xây dựng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận và cũng được pháp luật Hôn nhân và gia đình quy định tại điểm c khoản 1 điều 48: “ Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản”.

Xuất phát từ nhu cầu của mỗi bên, vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau về các điều kiện được đưa ra khi chấm dứt chế độ tài sản theo thỏa thuận và xác định trong những trường hợp nào một bên hoặc cả hai bên vợ chồng có quyền yêu cầu chấm dứt chế độ tài sản này. Khi chấm dứt chế độ tài sản theo thỏa thuận, tài sản sẽ được chia theo thủ tục ( thỏa thuận hoặc yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết ) theo thỏa thuận của vợ chồng theo nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản đó. Về nguyên tắc, tài sản có thể chia theo cách thức chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân hoặc theo nguyên tắc phân chia khác do hai vợ chồng tự thỏa thuận với nhau. Khi có tranh chấp xảy ra, việc giải quyết tranh chấp được ưu tiên áp dụng theo thỏa thuận của vợ chồng.

Bên cạnh đó,  ngoài những nội dung trên, vợ, chồng có thể thỏa thuận những nội dung khác ( ví dụ như vấn đề liên quan đến cấp dưỡng cho cha, mẹ, con… ) liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mỗi bên.

Không phải trong mọi trường hợp những nội dung cơ bản đều được vợ, chồng thỏa thuận đầy đủ trong văn bản. Có những vấn đề quan trọng nhưng có thể chưa trải qua thực tế nên vợ chồng không thể dự liệu được, hoặc có những trường hợp vấn đè đã được vợ chồng thỏa thuận nhưng thỏa thuận này không rõ ràng thì khi giải quyết tranh chấp sẽ không áp dụng theo nội dung thỏa thuận mà ưu tiên áp dụng dẫn chiếu các quy định về nguyên tắc chung của chế độ tài sản của vợ chồng ( các điều 29, 30, 31, 32 ) và các quy định tương ứng của chế độ tài sản luật định ( khoản 2 điều 48 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ).

Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ, chồng phải phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc đặt ra những quy định như vậy là nhằm để bảo đảm quyền lợi ích của gia đình, quyền, lợi ích chính đáng của các bên liên quan của vợ, chồng và ổn định trật tự về quan hệ tài sản của vợ chồng trong xã hội, các quy định này cũng sẽ góp phần ngăn chặn những hành vi có mục đích không lành mạnh, xâm phạm đến chế độ tài sản của vợ, chồng.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực hình sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.15067 sec| 1010.086 kb