'Sống thử' như vợ chồng và những hệ quả pháp lý

view 2209
comment-forum-solid 0

Hiện nay, sống thử đã trở thành một trào lưu. Một bộ phận giới trẻ cho rằng, sống thử giúp hai bên có thời gian tìm hiểu nhau, nếu thấy hợp nhau sẽ tiến tới hôn nhân chính thức, nếu không hợp nhau thì sẽ chia tay mà không cần đến sự can thiệp của pháp luật. Tuy nhiên, việc sống thử có thể gây ra một số hậu quả pháp lý nhất định.

‘Sống thử’ là gì?

Sống thử là việc các đôi nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn.

'Sống thử' như vợ chồng có vi phạm pháp luật hay không?

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn liên quan quy định: Người nào đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thì tùy theo trường hợp có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội Vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật nêu trên gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Việc nam nữ chưa đăng ký kết hôn mà sống chung với nhau như vợ chồng không bị coi là vi phạm pháp luật và không bị xử phạt hành chính hay xử lý hình sự. Như vậy, pháp luật không cấm nhưng cũng không khuyến khích việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.

Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Hai bên sống với nhau theo hình thức “góp gạo thổi cơm chung” thì các bên chỉ chịu trách nhiệm tài sản trong giới hạn tài sản riêng của cá nhân. Khi chung sống lâu dài mà có con thì hai bên phải thỏa thuận với nhau trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc con, tạo mọi điều kiện cho con được học hành, tôn trọng mọi quyền và lợi ích hợp pháp của con.

Sống thử như vợ chồng và những hậu quả pháp lý

Không được pháp luật bảo vệ trong trường hợp có  “người thứ ba”

Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: "Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy với nhau" . ( Điều 19)

Như vậy, nếu vi phạm nguyên tắc chung thủy trong hôn nhân, người vi phạm (chồng hoặc vợ) có thể sẽ bị xử lý vi phạm hành chính, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, sống thử không được pháp luật công nhận nên trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng sẽ không tồn tại những quyền và nghĩa vụ pháp lý nêu trên. Điều này có tác động khá tiêu cực đến cuộc sống chung giữa hai người. Bởi, nếu hai người sống chung với nhau mà không có quyền và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc thì bên còn lại sẵn sàng vi phạm. Một bên hoặc cả hai có thể “ngoại tình” mà người chung sống không ngăn cản được do không được đảm bảo về mặt pháp lý.

Vấn đề pháp lý đối với con chung

Một trong những điều kiện cần thiết để làm giấy khai sinh cho trẻ chính là giấy đăng ký kết hôn. Những cặp đôi sống thử khi không có hôn thú nếu muốn được cấp giấy khai sinh cho con sẽ buộc phải áp dụng quy định tại Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015: “Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống”. (Khoản 2 Điều 15)

Do đó, trong trường hợp cặp đôi sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn, đứa trẻ sẽ mang họ mẹ. Nếu trong trường hợp người cha có chứng cứ chứng minh được quan hệ cha con và có nguyện vọng được nhận con sẽ được giải quyết.

Hiện nay, thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 đã quy định cụ thể hơn nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của người dân, cụ thể tại Điều 15 và Điều 16 của thông tư này. Mặc dù vậy, dù người cha có nhận con hay không thì khi bố mẹ chia tay, đứa trẻ vẫn thiệt thòi nhất.

Bài viết được thực hiện bởi: Ls Nguyễn Bích Phượng – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: "Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên trong trường hợp không sống chung với con" (Điều 110) . Tuy nhiên, trong trường hợp sống thử, quy định này rất khó được áp dụng. Bởi trên giấy khai sinh của con chỉ có tên mẹ, do đó nếu như chia tay, người mẹ sẽ không có căn cứ pháp lý để yêu cầu người bố phải cấp dưỡng cho con, trừ khi dùng đến biện pháp xét nghiệm của y học để chứng minh quan hệ cha con.

Vấn đề pháp lý liên quan đến tài sản

Luật Hôn nhân và  gia đình năm 2014 quy định: “Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”. (Điều 16) 

Với trường hợp sống thử, khi đường ai nấy đi, tài sản chung hình thành trong thời kỳ sống chung rất khó phân chia. Bởi không có giấy đăng ký kết hôn nên mọi nghĩa vụ về tài sản phát sinh trong thời kỳ này sẽ trở nên khá rắc rối.

Có những tài sản đăng ký sở hữu chỉ mang tên 1 người. Vì vậy, nếu người còn lại muốn được phân chia những tài sản đó phải có căn cứ chứng minh công sức mình cùng tạo dựng, hình thành nên tài sản. Việc chứng minh này dường như rất khó khăn trên thực tế.

Việc sống thử từ trước đến nay vốn dĩ pháp luật không cấm nhưng cũng không cổ súy. Thế nhưng, trên thực tế, những tranh chấp phát sinh xảy ra từ việc sống thử rất nhiều dẫn đến những hậu quả pháp lý vô cùng phức tạp. Trước khi tính đến chuyện sống thử, những cặp đôi cần phải suy nghĩ thật kỹ, tính đến những thiệt thòi kể trên để có được quyết định đúng đắn đối với cuộc sống bản thân mình.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  • Bài viết trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân gia đình được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  • Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  • Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

Luật sư Nguyễn Bích Phượng

Luật sư Nguyễn Bích Phượng

https://everest.org.vn/luat-su-nguyen-bich-phuong/ Luật sư Nguyễn Bích Phượng có 4 năm kinh nghiệm làm việc tại Công ty Luật TNHH Everest: Xử lý các vụ án liên quan đến tranh chấp về thừa kế, hôn nhân- gia đình, dân sự, lao động, doanh nghiệp.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
024 66 527 527
0.39532 sec| 1044.266 kb