Tất tần tật các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự mới nhất

0
451
Đánh giá

Trong các vấn đề của dân sự, bồi thường thiệt hại là một trong những vấn đề được quan tâm đáng kể bởi nó có thể phát sinh bất cứ thời điểm nào trong cuộc sống. Bài viết này sẽ nêu cho các bạn tất tần tật các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự.

Tất tần tật các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự mới nhất
                                    Luật sư tập sự Nguyễn Thị Mai – Công ty Luật TNHH Everest, Tổng đài tư vấn: 1900.6198

Bồi thường thiệt hại là gì?

Bồi thường thiệt hại là một hình thức thuộc trách nhiệm dân sự có mục đích buộc bên có hành vi gây thiệt hại cho một chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho chủ thể bị thiệt hại bởi hành vi của bên gây thiệt hại.

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh khi có đầy đủ các căn cứ sau:

Thứ nhất: có thiệt hại xảy ra trên thực tế, có lỗi, có hành vi trái pháp luật của chủ thể gây thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả những hành vi trái pháp luật và hậu quả đã xảy ra.

Thứ hai: thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra bao gồm thiệt hại về vật chất và tinh thần, thiệt hại phải xảy ra trên thực tế là điều kiện bắt buộc để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho chủ thể vi phạm.

Như vậy, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho chủ thể có hành vi trái pháp luật bao gồm: có hành vi vi phạm pháp luật, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế đã xảy ra, có lỗi của chủ thể thực hiện hành vi.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định như thế nào?

Căn cứ theo Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015, nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định như sau:

Thứ nhất, thiệt hại trên thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời.

Nguyên tắc này được áp dụng khi:

Người thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có lỗi cố ý dù cho trên thực tế thiệt hại xảy ra lớn hơn hay nhỏ hơn so với hoàn cảnh kinh tế của họ thì họ vẫn phải bồi thường toàn bộ và kịp thời đối với thiệt hại mà họ đã gây ra.

Người thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có lỗi vô ý nhưng họ có khả năng kinh tế để bồi thường.

Người thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có lỗi vô ý, trước mắt thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của họ nhưng lâu dài họ lại có khả năng kinh tế để thực hiện việc bồi thường.

Các chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường, phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Thứ hai, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường khi không có lỗi hoặc có lỗi vô ý đối với hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của họ.

Thứ ba, khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì một trong hai bên trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Thứ tư, khi bên bị thiệt hại có lỗi đối với việc gây thiệt hại của bên gây thiệt hại thì họ không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể được quy định như thế nào?

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể theo quy định bao gồm hai loại trách nhiệm:

Một, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, đây là trách nhiệm bù đắp tổn thất về thiệt hại vật chất thực tế, có thể quy đổi ra thành tiền do bên có hành vi vi phạm pháp luật gây ra. Các tổn thất về thiệt hại vật chất bao gồm: tổn thất về tài sản, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại.

Hai, trách nhiệm bù đắp tổn thất về mặt tinh thần: người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do các hành vi của họ đã xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín thì bên cạnh việc chấm dứt các hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai họ còn phải bồi thường một khoản tiền tương ứng để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại.

Tìm hiểu thêm về: Thực hiện công việc không có ủy quyền

Bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể

Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:

Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

Nếu như vi phạm một trong các điều kiện của tình thế cấp thiết trên thì được coi là vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết.

Do đó, chủ thể gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều 595 Bộ luật dân sự năm 2015:

Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.

Theo quy định trên, thì chủ thể gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết chỉ phải bồi thường phần vượt quá phần lợi ích cần hy sinh để bảo vệ phần lợi ích lớn hơn.

Phần lợi ích cần hy sinh thuộc trách nhiệm bồi thường của chủ thể đã gây ra tình thế cấp thiết.

Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Theo Khoản 2, khoản 4 Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có nội dung như sau:

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể là chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản.

Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

Chủ sở hữu vật nuôi (súc vật), người chiếm hữu, sử dụng súc vật, người thứ ba gây thiệt hại không trực tiếp bằng hành vi của mình mà lại thông qua hoạt động của súc vật và họ bị suy đoán là có lỗi trong quản lý hoạt động của chúng.

Bồi thường thiệt hại do vật nuôi (súc vật) gây ra là là trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng của chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc người thứ ba khi họ có lỗi để súc vật gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản cho cá nhân hoặc các tổ chức khác.

Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể

Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể là việc yêu cầu chủ thể xâm phạm thi thể phải thực hiện nghĩa vụ bằng một khoản tiền nhất định. Khoản tiền đó là các chi phí mà những người thân thích của cá nhân đã chết bỏ ra để tìm kiếm bộ phận thi thể bị mất, khắc phục các thiệt hại. Cụ thể, ở đây có hai loại thiệt hại đó là:

Thiệt hại về vật chất do hành vi xâm phạm thi thể bao gồm các khoản tiền mà thân nhân của người có thi thể bị xâm phạm bỏ ra để tổ chức các hoạt động tìm kiếm bộ phận bị mất như thuê người, thuê các phương tiện, máy móc để phục vụ hoạt động tìm kiếm. Là chi phí thuê nơi bảo quản thi thể, tránh cho thi thể bị ảnh hưởng dưới tác động của yếu tố tự nhiên, chi phí khôi phục tình trạng nguyên trạng cho thi thể… và các thiệt hại vật chất hợp lý khác (chủ thể phải chứng minh).

Thiệt hại về tinh thần, người có hành vi trái pháp luật xâm phạm thi thể ngoài các khoản bồi thường thiệt hại về vật chất ra còn phải bồi thường thêm một khoản tiền khác để bù đắp về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người có thi thể bị xâm phạm như cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi. Nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết sẽ được hưởng khoản tiền bồi thường tổn thất tinh thần này.

Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả

Theo quy định tại Điều 607 Bộ luật dân sự năm 2015, người thực hiện hành vi xâm phạm mồ mả phải chịu trách nhiệm bồi thường sau đây:

Thứ nhất, bồi thường thiệt hại về tài sản: Trên cơ sở hậu quả do hành vi xâm phạm mồ mả gây ra, người thực hiện hành vi phải có trách nhiệm bồi thường các chi phí để nhằm hạn chế, khắc phục thiệt hại một cách hợp lý:

 Chi phí để tính bồi thường phải dựa trên cơ sở thiệt hại phát sinh trên thực tế và quy đổi được bằng tiền.

Một số loại chi phí phát sinh khi có hành vi xâm phạm mồ mả như vật liệu liệu xây dựng; chi phí thuê nhân công xây dựng, sửa chữa lại những hư hỏng, thiệt hại mà người gây thiệt hại đã gây ra, chi phí bảo quản thi thể, hài cốt,…nếu việc xâm phạm mồ mả có tác động nghiêm trọng,…

Thứ hai, trách nhiệm bù đắp về tổn thất tinh thần cho thân nhân của người chế do hành vi xâm phạm mồ mả đã gây ra:

Mức bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần do các bên tự thỏa thuận tuy nhiên mức tối đã không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định

Chủ thể được bồi thường về tổn thất tinh thần là những người thân thích theo thứ tự hàng thừa kế của người chết. Nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này.

Một số câu hỏi về bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra như thế nào?

Theo Điều 587 Bộ luật dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra có nội dung cụ thể như sau: “Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.”

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là bao nhiêu?

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Thời hạn bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm là bao lâu?

Tại Điều 593 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về thời hạn được hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm như sau:

– Trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường từ thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động cho đến khi chết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

– Trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng từ thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết trong thời hạn sau đây:

+ Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;

+ Người thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.

– Đối với con đã thành thai của người chết, tiền cấp dưỡng được tính từ thời điểm người này sinh ra và còn sống.

Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có khác nhau không?

Câu trả lời là có. Bởi vì căn cứ để xác lập bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là hoàn toàn khác nhau.

Mới bạn tìm hiểu chi tiết sự khác nhau của hai loại bồi thường này tại: So sánh bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và bồi thường thiệt trong hợp đồng

Xem thêm các nội dung liên quan khác tại Pháp trị – Chia sẻ kiến thức pháp lý

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây